Thời sự

Chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số và những thay đổi của nền kinh tế

Tại hội thảo, các đại biểu trao đổi về phương pháp nghiên cứu chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số, những thay đổi trong mô hình kinh doanh, cấu trúc thị trường và quan hệ lao động dưới tác động của dữ liệu, thuật toán và trí tuệ nhân tạo.

Quang cảnh hội thảo. 
Ảnh: Minh Thái – TTXVN

Ngày 9/10, tại Hà Nội, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) tổ chức Hội thảo khoa học "Chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số: Khái niệm, cách tiếp cận và một số vấn đề đặt ra hiện nay", nhằm phân tích những thay đổi trong phương thức tích lũy tư bản, mô hình kinh doanh, cấu trúc thị trường và quan hệ lao động dưới tác động của dữ liệu, nền tảng số và trí tuệ nhân tạo.

Tiến sĩ Đặng Xuân Thanh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho biết, những thay đổi trong các quy luật vận động của chủ nghĩa tư bản khi công nghệ số phát triển; các vấn đề được đề cập gồm sự biến đổi của quan hệ sở hữu, cơ chế tạo ra và phân phối giá trị, quá trình tái sản xuất mở rộng, tích lũy và tập trung tư bản. Đặc biệt, việc các doanh nghiệp lớn gia tăng đầu tư vào chip, trí tuệ nhân tạo và hạ tầng công nghệ làm nổi bật vấn đề tập trung nguồn lực và quyền kiểm soát những yếu tố quan trọng của nền kinh tế.

Những thay đổi này cũng tác động đến quan hệ lao động và đời sống xã hội. Việc ứng dụng công nghệ có thể làm thay đổi cách tổ chức sản xuất, nhu cầu sử dụng lao động và yêu cầu về kỹ năng, từ đó ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập và an sinh xã hội. Đối với Việt Nam, việc nghiên cứu cần gắn với thực tiễn phát triển trong nước, nhất là khả năng tiếp nhận và làm chủ công nghệ, thu hút đầu tư, nâng cao năng lực doanh nghiệp và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thọ Đạt, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân phân tích mối quan hệ giữa dữ liệu, lao động và quyền lực trong nền kinh tế nền tảng và trí tuệ nhân tạo. Chủ nghĩa tư bản số được xem xét từ cách thức tổ chức và tích lũy tư bản dựa trên dữ liệu, nền tảng, thuật toán và hạ tầng số; cách tiếp cận Mác xít được vận dụng để phân tích vấn đề lao động, sở hữu và quyền lực trong môi trường số.

Nền kinh tế số vẫn phụ thuộc vào các điều kiện vật chất như chip, trung tâm dữ liệu, mạng viễn thông và điện năng. Các hệ thống trí tuệ nhân tạo còn cần hoạt động nghiên cứu, xử lý dữ liệu, phát triển phần mềm và vận hành. Việc đánh giá vai trò của công nghệ cần tính đến cả nguồn lực vật chất và lao động đứng phía sau các ứng dụng số; do đó, dữ liệu ngày càng trở thành đầu vào quan trọng của hoạt động kinh tế. Các nền tảng không chỉ kết nối người mua với người bán mà còn có thể chi phối cách thức giao dịch và tiếp cận khách hàng. Doanh thu của doanh nghiệp trong lĩnh vực này có thể đến từ quảng cáo, phí giao dịch, dịch vụ điện toán đám mây và quyền truy cập các công cụ trí tuệ nhân tạo. Khả năng kiểm soát dữ liệu và hạ tầng vì thế có thể tạo ra lợi thế kinh tế đáng kể.

Việc phân tích cơ chế tích lũy trong nền kinh tế số cần phân biệt giá trị thặng dư trong quá trình sản xuất với lợi nhuận độc quyền và các khoản thu phát sinh từ vị thế kiểm soát nền tảng hoặc hạ tầng. Đối với người lao động, trí tuệ nhân tạo có thể làm thay đổi nhiệm vụ và yêu cầu kỹ năng, nhưng khả năng một công việc chịu tác động của công nghệ không đồng nghĩa công việc đó chắc chắn bị thay thế. Mức độ tác động phụ thuộc vào cách doanh nghiệp ứng dụng công nghệ và đặc điểm của từng ngành nghề. Những vấn đề này đòi hỏi Việt Nam quan tâm đến quản trị dữ liệu, bảo vệ người lao động và đào tạo kỹ năng phù hợp.

Tiến sĩ Nguyễn Đình Chúc, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới nhận định, cách các nền tảng số và việc sử dụng dữ liệu, thuật toán đang làm thay đổi hoạt động kinh doanh, quan hệ cạnh tranh và khả năng tiếp cận thị trường của doanh nghiệp.

Các nền tảng số có thể kết nối nhiều nhóm người dùng, điều phối giao dịch và kiểm soát những khâu quan trọng như giao diện, tiêu chuẩn kỹ thuật, hệ thống thanh toán và xếp hạng dịch vụ. Lợi thế của doanh nghiệp không chỉ đến từ tài sản sở hữu mà còn từ khả năng kiểm soát mạng lưới người dùng và những điều kiện để các doanh nghiệp khác tiếp cận thị trường. Khi một doanh nghiệp nắm giữ vị trí trung tâm trong hệ sinh thái số, các doanh nghiệp khác có thể gặp khó khăn nếu phụ thuộc vào nền tảng để tiếp cận khách hàng hoặc phân phối sản phẩm. Những vấn đề cần nghiên cứu gồm việc nền tảng ưu tiên dịch vụ của chính mình, kết hợp nhiều dịch vụ trong cùng hệ sinh thái, tạo rào cản chuyển đổi và làm gia tăng nguy cơ tập trung quyền lực thị trường. Để đánh giá những biến đổi này, cần kết hợp các cách tiếp cận kinh tế chính trị, lý thuyết doanh nghiệp, kinh tế học thể chế và nghiên cứu cấu trúc thị trường. Phân tích trường hợp, báo cáo tài chính, khảo sát doanh nghiệp và người lao động, phỏng vấn chuyên gia là những phương pháp có thể giúp làm rõ cơ chế vận hành của các mô hình kinh doanh số.

Đối với Việt Nam, những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu gồm khả năng giữ lại giá trị trong nước khi kinh tế số phát triển, mức độ phụ thuộc của doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh vào các nền tảng, năng lực phát triển công nghệ trong nước và điều tiết cạnh tranh. Đây là những nội dung có ý nghĩa đối với việc xây dựng chính sách phát triển kinh tế số và nâng cao khả năng tham gia của doanh nghiệp Việt Nam vào các hoạt động kinh tế có giá trị gia tăng cao.

Tại hội thảo, các đại biểu trao đổi về phương pháp nghiên cứu chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số, những thay đổi trong mô hình kinh doanh, cấu trúc thị trường và quan hệ lao động dưới tác động của dữ liệu, thuật toán và trí tuệ nhân tạo; đồng thời thảo luận các vấn đề về cạnh tranh, phân phối lợi ích, bảo vệ người lao động và năng lực làm chủ công nghệ của Việt Nam, góp phần bổ sung cơ sở khoa học phục vụ nghiên cứu và hoạch định chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số./.


Minh Thái

Xem thêm