Dự thảo Luật Đo lường sửa đổi tập trung vào 3 trụ cột chính sách nhằm góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Trước yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, việc sửa đổi Luật Đo lường năm 2011 được đặt ra nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao năng lực đo lường quốc gia và đổi mới phương thức quản lý theo hướng hiện đại. Dự thảo Luật tập trung vào 3 trụ cột chính sách gồm chuyển đổi số hoạt động đo lường; phát triển năng lực hệ thống đo lường quốc gia, phát huy vai trò doanh nghiệp; phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính, qua đó góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Dự kiến, dự án Luật sẽ được trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI vào tháng 10/2026.
*Chuyển từ quản lý phương tiện đo sang bảo đảm độ tin cậy kết quả đo
Sau gần 15 năm thi hành, Luật Đo lường năm 2011 đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh và quá trình hội nhập quốc tế. Theo ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng quốc gia, việc sửa đổi Luật nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, trong đó có Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Chỉ thị số 38-CT/TW về đẩy mạnh công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng quốc gia đến năm 2030 và những năm tiếp theo.
Quá trình sửa đổi cũng hướng tới thực hiện các yêu cầu tại Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Đặc biệt, yêu cầu cắt giảm ít nhất 30% thời gian xử lý thủ tục hành chính, ít nhất 30% chi phí tuân thủ pháp luật và ít nhất 30% điều kiện kinh doanh theo Nghị quyết số 68-NQ/TW được xác định là một trong những cơ sở quan trọng để rà soát, hoàn thiện các quy định của Luật.
Việc sửa đổi đồng thời nhằm khắc phục những khoảng trống pháp lý trong phân cấp, phân quyền, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thống nhất với hệ thống pháp luật có liên quan và các điều ước quốc tế. Quan điểm xuyên suốt là bảo đảm tính kế thừa, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, tăng cường huy động nguồn lực xã hội, phát huy vai trò của doanh nghiệp, trong khi Nhà nước tiếp tục giữ vai trò đầu tư, kiến tạo và bảo đảm hạ tầng đo lường thiết yếu.
Điểm chuyển dịch quan trọng trong dự thảo là từng bước thay đổi trọng tâm quản lý từ kiểm soát riêng lẻ phương tiện đo sang bảo đảm độ tin cậy của phép đo và kết quả đo. Đây cũng là nền tảng để đổi mới phương thức quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả giám sát và đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong bối cảnh chuyển đổi số.
Cụ thể, trụ cột chuyển đổi số hoạt động đo lường hướng tới hiện đại hóa phương thức quản lý, chuyển từ kiểm soát thủ công sang quản lý dựa trên dữ liệu đo lường, nền tảng số và mức độ rủi ro. Dự thảo bổ sung các quy định về nền tảng số, cơ sở dữ liệu dùng chung, kết quả đo lường số hóa, hồ sơ điện tử cũng như việc quản lý, khai thác dữ liệu trên môi trường số.
Trên cơ sở dữ liệu được hình thành và kết nối, hoạt động kiểm tra sẽ từng bước chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, thực hiện theo mức độ rủi ro. Cách tiếp cận này không chỉ nâng cao tính minh bạch, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước mà còn giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ. Dữ liệu đo lường cũng trở thành nguồn lực phục vụ nâng cao năng suất, chất lượng, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và quản lý rủi ro trong sản xuất, kinh doanh.
*Phát triển năng lực đo lường, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp
Trụ cột thứ hai tập trung phát triển năng lực hệ thống đo lường quốc gia gắn với phát huy vai trò của doanh nghiệp. Theo đó, dự thảo Luật bổ sung định hướng phát triển đo lường khoa học, đo lường công nghiệp; nâng cao năng lực hệ thống chuẩn đo lường quốc gia và hạ tầng kỹ thuật đo lường. Các lĩnh vực phục vụ công nghệ chiến lược, năng lượng mới, kinh tế số, kinh tế xanh, nghiên cứu, phát triển và đổi mới sáng tạo được xác định là những lĩnh vực cần ưu tiên nâng cao năng lực đo lường.
Cùng với đầu tư hạ tầng, dự thảo khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư, phát triển và khai thác năng lực đo lường, nâng cao khả năng tự bảo đảm đo lường trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đáng chú ý, lần đầu tiên Chương trình bảo đảm đo lường tại tổ chức, doanh nghiệp được luật hóa, tạo cơ sở pháp lý để doanh nghiệp chủ động kiểm soát quá trình đo, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh.
Dự thảo cũng chú trọng phát triển nguồn nhân lực đo lường từ Trung ương đến địa phương và tại doanh nghiệp; tăng cường gắn kết hoạt động đo lường với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, năng suất và chất lượng. Đồng thời, cơ chế thừa nhận kết quả đo lường của nước ngoài được hoàn thiện để áp dụng trong trường hợp năng lực trong nước chưa đáp ứng yêu cầu.
Trụ cột thứ ba tập trung phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính và cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh. Một trong những nội dung đáng chú ý là dự thảo phân định rõ cơ chế quản lý đối với phương tiện đo nhóm 1 và nhóm 2.
Theo đó, dịch vụ kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo nhóm 1 được thực hiện theo cơ chế tự công bố năng lực, tự chịu trách nhiệm. Đối với phương tiện đo nhóm 2 phục vụ yêu cầu quản lý bắt buộc, Nhà nước thực hiện đánh giá và chỉ định các tổ chức đáp ứng yêu cầu kỹ thuật. Cách tiếp cận này vừa mở rộng không gian tham gia của các tổ chức, doanh nghiệp, vừa duy trì sự kiểm soát của Nhà nước đối với những phương tiện đo có ảnh hưởng trực tiếp đến các lĩnh vực cần quản lý chặt chẽ.
Dự thảo đồng thời làm rõ trách nhiệm quản lý phép đo chuyên ngành của các bộ; phân định thẩm quyền kiểm tra giữa Trung ương, cấp tỉnh và cấp xã, bảo đảm phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Hoạt động kiểm tra nhà nước về đo lường được hoàn thiện theo hướng dựa trên dữ liệu và mức độ rủi ro, không làm phát sinh thêm đầu mối quản lý.
Ông Nguyễn Nam Hải cho biết, bên cạnh những thay đổi về phương thức quản lý, dự thảo Luật còn đặt mục tiêu cắt giảm đáng kể thủ tục hành chính. Cụ thể, có 8 thủ tục được đề xuất cắt giảm, gồm 3 thủ tục đăng ký hoạt động dịch vụ đối với phương tiện đo nhóm 1 và chuẩn không dùng trực tiếp để kiểm định phương tiện đo nhóm 2; 3 thủ tục chứng nhận chuẩn dùng trực tiếp để kiểm định phương tiện đo nhóm 2; 2 thủ tục liên quan đến dấu định lượng.
Việc cắt giảm được thực hiện thông qua chuyển sang cơ chế tự công bố năng lực, tự chịu trách nhiệm đối với nhóm 1; bỏ thủ tục chứng nhận chuẩn công tác; xóa bỏ phân loại hàng đóng gói sẵn và thủ tục cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện sử dụng dấu định lượng. Các thay đổi này dự kiến giúp giảm trên 300 triệu đồng chi phí thực hiện mỗi năm, đồng thời vẫn duy trì những biện pháp cần thiết nhằm bảo đảm độ chính xác của phép đo, phòng, chống gian lận thương mại và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Như vậy, các nội dung sửa đổi không chỉ hướng tới đơn giản hóa quy trình, thủ tục mà còn tạo chuyển biến căn bản trong tư duy quản lý đo lường. Việc kết hợp chuyển đổi số, quản lý dựa trên rủi ro, phát triển hạ tầng và năng lực đo lường với phân cấp, phân quyền được kỳ vọng sẽ tạo môi trường thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước./.

