Khoa học

Đưa khoa học cơ bản trở thành cơ sở hình thành công nghệ lõi

Giới chuyên gia nhìn nhận, chỉ đạo Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ khơi thông các điểm nghẽn nguồn lực, đưa đội ngũ trí thức nước nhà trở thành động lực then chốt cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Yêu cầu đổi mới mạnh mẽ công tác nghiên cứu khoa học cơ bản, coi đây là "nền móng tri thức" và chiến lược tự chủ quốc gia của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang nhận được sự đồng thuận lớn từ dư luận. Giới chuyên gia nhìn nhận, chỉ đạo này sẽ khơi thông các điểm nghẽn nguồn lực, đưa đội ngũ trí thức nước nhà trở thành động lực then chốt cho kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

* Dữ liệu - hạ tầng chiến lược của nghiên cứu cơ bản

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Tuệ, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm về Địa môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu (Đại học Quốc gia Hà Nội).
Ảnh: Diệu Thúy - TTXVN 

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Tuệ, Giám đốc Phòng thí nghiệm trọng điểm về Địa môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu (Đại học Quốc gia Hà Nội), việc khẳng định vai trò của nghiên cứu cơ bản cho thấy bước chuyển lớn trong tư duy của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đây là nền tảng để tạo ra các công nghệ cốt lõi, nâng cao năng lực dự báo và xây dựng sự tự chủ cho quốc gia.

Từ thực tế ngành Khoa học Trái đất và Môi trường, lĩnh vực luôn phải đối mặt với những hiện tượng tự nhiên phức tạp, biến đổi khó lường và dễ gây khủng hoảng, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Tuệ đã chỉ ra 3 "điểm nghẽn" lớn hiện nay của nghiên cứu cơ bản liên quan đến lĩnh vực này. Đó là các nghiên cứu về Trái đất và biến đổi khí hậu cần đến hàng thập kỷ để tích lũy dữ liệu nhưng hiện nay ngành lại thiếu nguồn kinh phí ổn định, dài hạn và đủ lớn. Mặt khác, cách quản lý hiện hành vẫn nặng tính thủ tục giấy tờ, chưa chấp nhận thực tế là nghiên cứu khoa học luôn có xác suất thất bại. Điều này khiến các nhà khoa học e ngại, không dám thử nghiệm những ý tưởng mới mẻ, mang tính đột phá.

Mặt khác, hợp tác ba nhà giữa Nhà nước - Viện/trường - Doanh nghiệp hiện vẫn còn lỏng lẻo. Trong khi các nhà khoa học ưu tiên sự chuẩn xác, hoàn hảo thì doanh nghiệp lại cần sản phẩm có giá thành rẻ, mang lại hiệu quả và ứng dụng được ngay. Điều này khiến nhiều kết quả nghiên cứu đành "đắp chiếu" trong phòng thí nghiệm.

Bên cạnh đó, các trường đại học công lập đang gặp rào cản lớn về thủ tục khi muốn dùng tài sản trí tuệ hoặc máy móc được nhà nước đầu tư để góp vốn thành lập các công ty khởi nghiệp công nghệ. Việc thiếu cơ chế thông thoáng này đã làm chùn bước các nhà khoa học trong việc đưa tri thức từ trang giấy ra phục vụ cuộc sống.

Với định hướng coi dữ liệu là hạ tầng chiến lược của nghiên cứu cơ bản trong thời đại AI, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Tuệ nhấn mạnh, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác định rõ mục tiêu đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, xây dựng các cơ sở dữ liệu lớn có chủ quyền. Riêng với ngành Khoa học Trái đất và Môi trường, hạ tầng dữ liệu đồng bộ là “chìa khóa” để nâng cao năng lực dự báo và chuyển từ quản lý thụ động sang Quản trị thích ứng.

Để nhanh chóng xây dựng hạ tầng dữ liệu dùng chung phục vụ phát triển bền vững, Giáo sư đề xuất 5 nhóm giải pháp: Xây dựng nền tảng dữ liệu quốc gia thời gian thực nhằm hoàn thành kết nối, chia sẻ đồng bộ cơ sở dữ liệu quốc gia và các bộ, ngành, địa phương. Ứng dụng AI, IoT và viễn thám để giám sát môi trường minh bạch, độc lập; cho phép truy cập công khai để hỗ trợ ra quyết định dựa trên bằng chứng khoa học. Xây dựng “Bản sao số sinh thái” cho các vùng trọng điểm: Tích hợp năng lực tính toán đa tỷ lệ với dữ liệu viễn thám để giả lập mô hình 3D theo thời gian thực cho các lưu vực sông lớn, siêu đô thị, vùng ven biển, hệ sinh thái quan trọng nhằm chạy thử nghiệm, dự báo chính xác các tác động trước khi ban hành chính sách.

Cùng với đó, chung tay huấn luyện Mô hình Ngôn ngữ Lớn (LLM) chuyên ngành: Huy động các trường đại học, viện nghiên cứu đóng góp kho tàng dữ liệu tích lũy nhiều năm để tinh chỉnh trợ lý ảo AI nội sinh, giúp tự động hóa rà soát tiêu chuẩn, phân tích luật pháp sinh thái và tối ưu hóa cảnh báo thiên tai.

Đồng thời, triển khai Mạng lưới Cảm biến Môi trường - Sinh thái thế hệ mới (IoT/6G): Hợp tác với các tập đoàn viễn thông sản xuất cảm biến IoT siêu nhỏ, chi phí thấp để phân bổ khắp các phân vùng môi trường, vùng nguy cơ tai biến (trượt lở, lũ bùn đá...) và các hệ sinh thái quan trọng nhằm cung cấp dòng dữ liệu vĩ mô liên tục; thể chế hóa quyền sở hữu và hình thành Sàn giao dịch dữ liệu: Hoàn thiện cơ chế xác lập quyền sở hữu, kinh doanh dữ liệu để phát triển kinh tế dữ liệu, thị trường dữ liệu. Đồng thời, Nhà nước phải đầu tư đích đáng vào mô hình hóa khí hậu tiên tiến, hệ thống cảnh báo sớm và mạng lưới truyền thông kiên cường để bảo đảm an ninh dữ liệu.

“Khi hạ tầng dữ liệu và năng lực tính toán được kết nối liên thông như một “hệ thần kinh trung ương”, Việt Nam mới có thể biến dữ liệu thành vũ khí chiến lược để ứng phó thành công với biến đổi khí hậu trong kỷ nguyên mới” Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tài Tuệ khẳng định.

*Hướng tới Hệ sinh thái doanh nghiệp tự động hóa

Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng, Tổng Thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam (thành viên thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam).
Ảnh: Diệu Thúy - TTXVN

Trước tư duy phát triển rất căn cơ và chiến lược của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: Muốn có công nghệ lõi thì phải bắt đầu từ khoa học cơ bản, Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng, Tổng Thư ký Hội Tự động hóa Việt Nam (thành viên thuộc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam) cho rằng, đây là chỉ đạo bám sát quy luật phát triển của các quốc gia công nghiệp mạnh trên thế giới. Nếu không có nền tảng vững chắc từ toán học, vật lý, vật liệu học, điều khiển học, trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data)…thì rất khó để hình thành được một nền công nghệ tự chủ.

Đối với ngành tự động hóa Việt Nam, Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng nhìn nhận đây thực sự là nỗi trăn trở nhiều năm qua. Tự động hóa vốn là cầu nối trực tiếp giữa nghiên cứu lý thuyết với sản xuất công nghiệp. Nếu ngành chỉ dừng lại ở khâu gia công, tích hợp thiết bị nhập khẩu thì nền công nghiệp nội địa sẽ mãi đứng ở phần ngọn của chuỗi giá trị với biên lợi nhuận thấp.

Do đó, Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng nhấn mạnh, muốn thực sự làm chủ dây chuyền sản xuất thông minh, robot công nghiệp, chip điều khiển hay nhà máy số, Việt Nam phải làm chủ từ gốc, từ thuật toán, phần mềm điều khiển, cảm biến cho đến dữ liệu sản xuất.

Từ thực tế ngành, Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng chỉ ra những hạn chế cố hữu như: Thiếu các nhóm nghiên cứu mạnh, thiếu hạ tầng dùng chung và dữ liệu lớn. Đây chính là những "điểm nghẽn" rõ ràng nhất làm chậm tiến trình làm chủ công nghệ. Theo Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng, nghiên cứu tự động hóa muốn đi đến công nghệ lõi đòi hỏi một hệ sinh thái rất lớn gồm phòng thí nghiệm hiện đại, trung tâm thử nghiệm, môi trường mô phỏng số và sự kết nối hữu cơ giữa Viện - Trường - Doanh nghiệp. Tuy nhiên, nguồn lực hiện nay của nước ta còn phân tán, các nhóm nghiên cứu mạnh hoạt động riêng lẻ, thiếu cơ chế phối hợp dài hạn và thiếu các dự án tầm cỡ quốc gia để tích tụ năng lực công nghệ. Do đại đa số doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ, khả năng đầu tư cho R&D (nghiên cứu và phát triển) còn hạn chế; trong khi doanh nghiệp FDI (Đầu tư trực tiếp nước ngoài) thường mang theo công nghệ sẵn có. Hệ quả là phần lớn các hệ thống cốt lõi trong nhà máy hiện nay như hệ điều khiển DCS, robot công nghiệp, nền tảng SCADA…đều phụ thuộc vào các tập đoàn nước ngoài, khiến chi phí nâng cấp cao và tính tự chủ công nghệ thấp.

Để tháo gỡ toàn diện các nút thắt từ nay đến tháng 6/2027 nhằm hình thành các dây chuyền sản xuất "Made in Vietnam", Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng đề xuất trước hết, Nhà nước cần thay đổi tư duy nghiên cứu, chuyển mạnh từ "nghiên cứu để công bố" sang "nghiên cứu để thương mại hóa", đưa đề tài khoa học gắn chặt với bài toán thực tế của nhà máy. Ngoài ra, Nhà nước cần vận hành mô hình liên kết bốn bên thực chất, trong đó doanh nghiệp là chủ thể chủ động đặt hàng và tổ chức R&D (nghiên cứu và phát triển); nhà khoa học giải quyết bài toán; Nhà nước hỗ trợ cơ chế, tài chính; Hội nghề nghiệp đóng vai trò kết nối hệ sinh thái.

Cùng với đó, Nhà nước cần xây dựng các trung tâm dùng chung như: Thiết lập các trung tâm tự động hóa và sản xuất thông minh cấp quốc gia/cấp vùng vận hành theo hướng mở (chia sẻ phòng lab, nền tảng mô phỏng số, dữ liệu chung) để giảm chi phí đầu tư ban đầu cho các bên. Ban hành các chính sách ưu đãi thuế, quỹ đổi mới công nghệ và bảo hộ sở hữu trí tuệ để doanh nghiệp mạnh dạn coi R&D (nghiên cứu và phát triển) là khoản đầu tư cho năng lực cạnh tranh dài hạn thay vì là chi phí. Đột phá trong đào tạo nhân lực, đổi mới chương trình đào tạo theo hướng tích hợp đa lĩnh vực như AI, IoT công nghiệp, robot, an ninh mạng công nghiệp để đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số nhà máy.

Cụ thể hóa các giải pháp trên nhằm giải quyết bài toán tổng thể của hệ sinh thái, Tiến sĩ Đỗ Nguyên Hưng cho biết thêm, gần đây Hội Tự động hóa Việt Nam đã ban hành Đề án Hệ sinh thái doanh nghiệp tự động hóa giai đoạn 2025 - 2030. Đề án đặt doanh nghiệp làm chủ thể trung tâm và hướng tới các mục tiêu chiến lược như: Nâng cao năng lực công nghệ và quản trị; xanh hóa và chuẩn hóa công nghiệp; liên kết mạng lưới và bứt phá khu vực./.

Trần Diệu Thúy

Tin liên quan

Xem thêm