Quốc hội với Cử tri

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI: Báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027 (Phần 1)

Năm 2026 là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng, tạo đà, tạo thế, tạo lực cho giai đoạn phát triển mới.

Sáng 17/10, Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI khai mạc trọng thể tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội, Thủ đô Hà Nội. Tại phiên khai mạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã trình bày Báo cáo về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027.

TTXVN trân trọng giới thiệu toàn văn báo cáo:

BÁO CÁO

KẾT QUẢ THỰC HIỆN KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN

KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2026; DỰ KIẾN KẾ HOẠCH

PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2027

(Báo cáo của Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng

trình bày tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI)

____________

Kính thưa đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam!

Kính thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đồng chí lão thành cách mạng!

Thưa các vị đại biểu Quốc hội, các vị khách quốc tế và đồng bào, cử tri cả nước!

Theo chương trình Kỳ họp, Chính phủ gửi đến Quốc hội 95 báo cáo, tờ trình, hồ sơ, tài liệu trên các lĩnh vực. Thay mặt Chính phủ, tôi xin báo cáo một số nội dung chủ yếu về tình hình phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; dự kiến kế hoạch phát triển KTXH năm 2027 như sau:


Quốc hội nghe Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng trình bày Báo cáo về tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026 và dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027. Ảnh: Doãn Tấn - TTXVN

Phần thứ nhất

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2026

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Năm 2026 là năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, có ý nghĩa quan trọng, tạo nền tảng, tạo đà, tạo thế, tạo lực cho giai đoạn phát triển mới. Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành đồng bộ nhiều chủ trương, quyết sách lớn, có tính chiến lược, bao quát các nền tảng và động lực phát triển chủ yếu trên các lĩnh vực [1], từng bước định hình mô hình, thể chế phát triển và phương thức quản trị quốc gia phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới [2].

Trong bối cảnh tình hình quốc tế, khu vực diễn biến hết sức phức tạp, nhiều vấn đề mới phát sinh vượt dự báo, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, xung đột gây đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, điều chỉnh chính sách của các nước đã tác động mạnh, trực tiếp làm suy giảm tăng trưởng kinh tế của các quốc gia và thương mại quốc tế, gia tăng lạm phát, đặc biệt giá xăng dầu, giá nhiều mặt hàng chiến lược tăng mạnh; với sự vào cuộc quyết liệt, trách nhiệm, sâu sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã bám sát các Nghị quyết, Kết luận của Đảng, Quốc hội, khẩn trương cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch hành động; đồng thời quyết liệt đổi mới căn bản phương thức làm việc, tổ chức thực hiện theo hướng khoa học, hợp lý, hiệu quả [3]; chủ động nhận diện, xử lý ngay các vấn đề đột xuất, phát sinh. Các cấp, các ngành, các địa phương quyết liệt triển khai, tạo chuyển biến rõ nét, đạt nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện; dự kiến đạt và vượt 14/15 chỉ tiêu KTXH chủ yếu [4]. Nổi bật là:

(1) Tăng trưởng kinh tế cao gắn với ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; các động lực tăng trưởng được phát huy, tạo nền tảng cho đổi mới mô hình phát triển. Tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước; GDP quý III tăng 9,95%, 9 tháng tăng 9,01%, thuộc nhóm cao của khu vực và thế giới [5].Chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác được điều hành chủ động, linh hoạt. Thu NSNN cả năm ước đạt 3,06 triệu tỷ đồng, tăng 14%, trong khi đã miễn, giảm, gia hạn thuế, phí khoảng 360 nghìn tỷ đồng. Đến hết năm 2026, nợ công khoảng 33-34% GDP; nợ Chính phủ khoảng 32-33% GDP; nợ nước ngoài quốc gia khoảng 28-29% GDP; bội chi ngân sách khoảng 4,1% GDP, trong giới hạn an toàn, tỷ giá ổn định [6], thanh khoản hệ thống tín dụng được cải thiện. Ngân hàng Nhà nước thông qua các biện pháp điều hành và đã chỉ đạo, hệ thống các tổ chức tín dụng thống nhất giảm lãi suất cho vay từ 1,5% - 2% đối với sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Trung ương, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.Lần đầu tiên thị trường chứng khoán được nâng hạng; Moody’s nâng triển vọng của Việt Nam từ mức “Ổn định” lên “Tích cực”. Các tổ chức quốc tế đánh giá cao sức chống chịu và triển vọng tăng trưởng của Việt Nam [7].

Trong bối cảnh giá dầu thô và nhiều mặt hàng tăng mạnh [8] nhưng nhờ chủ động quyết liệt kết hợp các biện pháp, cơ chế, chính sách: (1) Đẩy mạnh sản xuất xăng dầu trong nước, đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, sử dụng kịp thời các công cụ thuế, phí, ứng NSNN nên vẫn bảo đảm nguồn cung, giữ giá xăng dầu ở mức thấp so với khu vực [9]; (2) Huy động, điều tiết hợp lý nguồn điện nên bảo đảm cung ứng và không tăng giá trong bối cảnh nhu cầu sử dụng điện tăng cao nhất từ trước tới nay, nhất là phục vụ mục tiêu tăng trưởng, đầu tư cho khoa học công nghệ, trung tâm dữ liệu [10]. Đồng thời, thực hiện hiệu quả công tác quản lý, điều hành giá nên CPI bình quân 9 tháng chỉ tăng ở mức 4,52%.

Cả ba khu vực kinh tế đều tăng khá; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, các động lực tăng trưởng truyền thống được tập trung đẩy mạnh, các động lực mới bước đầu được thúc đẩy. Trong 9 tháng, công nghiệp - xây dựng tăng 11,21%, cao nhất từ năm 2015 [11]. Nông nghiệp duy trì ổn định; dịch vụ phát triển tích cực [12], khách quốc tế đạt 17,7 triệu lượt, tăng 14,5%, cao nhất từ trước đến nay [13]. Xuất nhập khẩu tăng 30,4% [14], cả năm ước đạt 1.110 tỷ USD, lần đầu tiên vượt ngưỡng 1.000 tỷ USD. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 9 tháng đạt 3,11 triệu tỷ đồng, tăng15,1%. Giải ngân đầu tư công đạt gần 643 nghìn tỷ đồng, bằng 63% kế hoạch, cao hơn cùng kỳ gần 13% (tương đương 202 nghìn tỷ đồng). Vốn FDI đăng ký đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%, cao nhất từ năm 2021 [15], tập trung nhiều vào chế biến, chế tạo, công nghệ cao, điện tử, bán dẫn [16]. Hoạt động doanh nghiệp tiếp tục khởi sắc [17].

(2) Hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện, tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực; kiến tạo thể chế phát triển, tạo chuyển biến thực chất trong tổ chức thực thi theo tinh thần Nghị quyết 66-NQ/TW. Chính phủ đã và đang trình Quốc hội nhiều luật, nghị quyết quan trọng với các cơ chế, chính sách đột phá hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh [18], nhất là: miễn, giảm thuế, nâng ngưỡng chịu thuế [19]; cơ chế vượt trội huy động nguồn lực cho các vùng, cực tăng trưởng; chuyển từ hỗ trợ sang phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân; khơi thông nguồn lực đất đai, phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho thuê; xử lý triệt để, hiệu quả các vấn đề tồn đọng kéo dài, đặc biệt là các dự án về đất đai, năng lượng, y tế; hợp nhất 04 Chương trình mục tiêu quốc gia, tăng quyền chủ động cho địa phương [20]. Đang triển khai rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách để giảm mạnh chi phí đầu vào thông qua các biện pháp quyết liệt giảm giá bất động sản, cắt giảm tối đa khâu trung gian [21], góp phần thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tổng rà soát hệ thống pháp luật; tập trung xử lý các quy định chồng chéo, bất cập; khắc phục tình trạng chậm, nợ văn bản hướng dẫn. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm 53% thời gian và 55% chi phí tuân thủ cho người dân, doanh nghiệp [22] (là mức cắt giảm lớn nhất từ trước đến nay [23]). Hoàn thành việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch [24].

Thực hiện đồng bộ, hiệu quả công tác sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, từng bước vận hành thông suốt chính quyền địa phương 02 cấp theo các Kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư [25]. Tiếp tục hoàn thiện tổ chức bộ máy bên trong các Bộ, cơ quan [26], xử lý giao thoa chức năng, nhiệm vụ (về quản lý khoáng sản, vệ sinh an toàn thực phẩm, doanh nghiệp nhà nước...). Hoàn thành sắp xếp, tinh gọn các thôn, tổ dân phố [27]; khắc phục cơ bản tình trạng quy mô nhỏ, phân tán; đẩy mạnh sắp xếp trường học, bệnh viện, đơn vị sự nghiệp công lập [28]. Quyết liệt xử lý khó khăn, vướng mắc trong vận hành chính quyền địa phương 2 cấp; nâng cao năng lực thực thi cấp cơ sở.

(3) Tập trung phát triển kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, thúc đẩy liên kết vùng, khai thác không gian phát triển mới. Hoàn thành thêm 395 km đường bộ cao tốc, đưa vào khai thác toàn tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông, khởi công đồng loạt 05 tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội, triển khai nhiều dự án hạ tầng quan trọng trong các lĩnh vực giao thông, năng lượng, văn hoá, xã hội... Quyết liệt tháo gỡ các dự án tồn đọng, kéo dài, giải phóng nguồn lực cho phát triển; đến hết tháng 9, có 4.688 dự án đã được xử lý và có phương án xử lý (với tổng diện tích gần 196 nghìn ha, tổng mức đầu tư trên 3,2 triệu tỷ đồng). Hoàn thiện cơ sở chính trị, pháp lý để xử lý dứt điểm vướng mắc đối với các dự án điện gió, điện mặt trời [29], khoáng sản...

(4) Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số có nhiều chuyển biến tích cực gắn với giải quyết các bài toán lớn của quốc gia [30]. Tập trung tháo gỡ vướng mắc về tài chính, đầu tư [31]. Kế hoạch 100 ngày xử lý các điểm nghẽn chuyển đổi số được tích cực triển khai. Đề án 06 mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, doanh nghiệp [32]; hạ tầng dữ liệu được mở rộng [33]; ban hành Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số [34]; Trung tâm Dữ liệu quốc gia, Cổng Dịch vụ công quốc gia được vận hành ổn định. Đã ban hành danh mục công nghệ, sản phẩm công nghệ chiến lược [35]. Theo Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2026 xếp 43/139 quốc gia, tăng 01 bậc, trong đó Việt Nam đứng đầu thế giới về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo trong tổng giao dịch thương mại hàng hóa. (còn tiếp)

----

[1] Trọng tâm là Kết luận 18-KL/TW, Nghị quyết 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam và 11 Nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị.

[2] Trọng tâm là đổi mới căn bản công tác xây dựng và thi hành pháp luật; tạo đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát huy hiệu quả các thành phần kinh tế, bảo đảm an ninh năng lượng; phát triển văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế và con người; củng cố quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

[3] Chủ độngcập nhật, tích hợp các nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện Kết luận 18-KL/TW vào Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV. Đổi mới, cải tiến phương thức họp; xây dựng lịch họp khoa học, tần suất hợp lý; nội dung ngắn gọn, rõ ràng, tập trung; tăng cường trao đổi, hội ý và chỉ đạo trực tiếp bảo đảm tính đoàn kết, thống nhất cao để giải quyết những vấn đề trọng tâm, cấp bách. Thủ tướng và các Phó Thủ tướng trực tiếp đi các địa phương để chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

[4] Riêng chỉ tiêutỷ lệgiảm hộ nghèo (theo chuẩn nghèo đa chiều) chưa đạt, nguyên nhân chủ yếu là do tỷ lệ hộ nghèo giai đoạn 2022-2025 đã ở mức thấp, nên còn ít dư địa để tiếp tục giảm theo chỉ tiêu được giao. Đồng thời, tỷ lệ hộ nghèo cả nước còn khoảng 1,3% theo chuẩn nghèo cũ, trong đó có khoảng 0,26% là hộ không có khả năng lao động; bên cạnh đó, một số địa phương đã hoàn thành mục tiêu từ giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ hộ nghèo tại nhiều địa phương ở mức rất thấp (từ 0,03%-0,56%...).

[5] Có 12/34 địa phương tăng trưởng hai con số, nhiều địa phương dự kiến vượt mục tiêu cả năm như Đồng Nai, Quảng Ninh, Ninh Bình, Khánh Hòa, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Tây Ninh...

[6] Giá trị đồng Việt Nam tăng 1,49% trong khi giá trị đồng tiền một số nước ASEAN giảm (Thái Lan mất giá 6,77%, Philippines 6,64%, Indonesia 7,35%,...). Đến 14/9/2026, dự trữ ngoại hối cơ bản ổn định so với thời điểm cuối năm 2025.

[7] IMF nâng dự báo tăng trưởng Việt Nam lên 8,2%; ADB nâng thêm 0,6 điểm%; WB dự báo Việt Nam tăng trưởng cao nhất khu vực Đông Á-Thái Bình Dương; AMRO nâng thêm 0,5 điểm %, cao nhất ASEAN+3; Brand Finance định giá thương hiệu quốc gia Việt Nam 462,28 tỷ USD, xếp 32/193 quốc gia.

[8] So với đầu năm: Giá thế giới: dầu thô tăng 65%; xăng tăng 81%; dầu diesel tăng 82%. Ở Việt Nam: xăng tăng 52%, dầu diesel tăng 71%. Trường hợp không áp dụng chính sách giảm thuế VAT, tiêu thụ đặc biệt, bảo vệ môi trường thì giá xăng dầu sẽ tăng khoảng 75-90% (giá xăng tăng 75%, giá dầu diesel tăng gần 90%).

[9] Ngày 08/10/2026: (1) Giá xăng: Việt Nam: 28.254 VNĐ/lít; Thái Lan: 31.884 VNĐ/lít (cao hơn 13%); Campuchia: 32.975 VNĐ/lít (cao hơn 17%); Lào: 52.500 VNĐ/lít (cao hơn 86%); Trung Quốc: 35.017 VNĐ/lít (cao hơn 24%); (2) Giá dầu: ViệtNam: 29.128 VNĐ/lít; Thái Lan: 33.059 VNĐ/lít (cao hơn 13,5%); Campuchia: 36.176 VNĐ/lít (cao hơn 24,2%); Lào: 41.040 VNĐ/lít (cao hơn 41%); Trung Quốc: 31.924 VNĐ/lít (cao hơn 9,6%).

[10] Đồng thời, EVN đã có lãi, từng bước xử lý lỗ lũy kế.

[11] Sản xuất công nghiệp tăng 12,33%, trong đó chế biến, chế tạo tăng gần 13%, tiếp tục giữ vai trò động lực quan trọng của nền kinh tế.

[12] Nông nghiệp duy trì ổn định, năng suất, sản lượng tăng; dịch vụ phát triển tích cực, thị trường trong nước và du lịch khởi sắc. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,1-13,6% (mục tiêu cả năm 13-15%).

[13] Khách nội địa đạt 126 triệu lượt, tăng 5,8%; tổng thu từ du lịch ước đạt 874 nghìn tỷ đồng.

[14] Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 9 tháng đạt 888 tỷ USD; xuất khẩu 434,3 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu 453,7 tỷ USD, tăng 36,7%.

[15] Vốn FDI thực hiện đạt 21,1 tỷ USD, tăng 12,1%, tập trung nhiều vào chế biến, chế tạo, công nghệ cao, điện tử, bán dẫn.

[16] Việt Nam đã và đang trở thành điểm đến đầu tư quan trọng của nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn và công nghệ cao. Nhiều tập đoàn lớn đã hiện diện và liên tục mở rộng hoạt động đầu tư tại Việt Nam, tiêu biểu như Samsung (trên 24 tỷ USD); LG (10,6 tỷ USD); Foxconn (5 tỷ USD); Intel (4,1 tỷ USD); Amkor (1,6 tỷ USD)... Đặc biệt, Việt Nam còn thu hút sự hiện diện và mở rộng hoạt động của nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu như NVIDIA, Qualcomm, Marvell, Synopsys (Hoa Kỳ) và Bosch (Đức)…

[17] Trong 9 tháng có gần 224 nghìn doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, cao hơn số rút lui. Cả năm ước có khoảng 1,11 triệu doanh nghiệp đang hoạt động.

[18] Năm 2026, Chính phủ dự kiến trình Quốc hội thông qua 78 luật, nghị quyết trong đó có một số dự án Luật quan trọng như Luật Đất đai, Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Nhà ở, Luật Ngân sách, Luật Kinh doanh bất động sản; các Nghị quyết phê duyệt chủ trương các dự án trọng điểm quốc gia…

[19] Trong đó, nâng ngưỡng doanh thu không phải chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh lên 01 tỷ đồng/năm; giảm 30% thuế thu nhập đối với doanh nghiệp, hộ kinh doanh có doanh thu không quá 10 tỷ đồng/năm, tạo thêm nguồn lực tích lũy, đầu tư và phát triển.

[20] Thành Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi. Khắc phục tình trạng dàn trải, giao thoa về đối tượng, địa bàn và nhiệm vụ; kinh phí thực hiện từ nguồn chi thường xuyên giảm hàng chục nghìn tỷ đồng để chuyển sang nhiệm vụ chi đầu tư khác; đã tổ chức Hội nghị trực tuyến toàn quốc quán triệt, triển khai Chương trình.

[21] Xử lý nghiêm các sai phạm trong phân phối xăng dầu, cung ứng điện, thuốc, thiết bị y tế, cấp mã số vùng trồng, kiểm định các sản phẩm nông nghiệp.

[22] Tương đương khoảng 23 nghìn tỷ đồng/năm.

[23] Đã bãi bỏ 56, sửa đổi 14 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; phân cấp 408 thủ tục hành chính từ Trung ương về địa phương; đơn giản hóa 673, cắt giảm 697 thủ tục hành chính và 1.754 điều kiện kinh doanh.

[24] Nhất là đã điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch sử dụng đất quốc gia, quy hoạch 06 vùng KTXH và các quy hoạch ngành, địa phương.

[25] Kết luận 183-KL/TW, Kết luận 137-KL/TW và Kết luận 76-KL/TW, Kết luận 210-KL/TW…

[26] Giảm 40/142 phòng thuộc Vụ (28,2%).

[27] Số lượng giảm xuống còn 48.078 đơn vị (giảm 46,33%), giải quyết chính sách đối với đối tượng tác động, dôi dư sau sắp xếp, qua đó đã giảm 103,1 nghìn người (khoảng 45,82%).

[28] Đối với đơn vị sự nghiệp công lập, đã giảm 55/678 đơn vị so với thời điểm 30/9/2025 (giảm 8,1%); các địa phương đã thành lập các Trung tâm Phục vụ hành chính công, Ban Quản lý dự án và các đơn vị cung ứng dịch vụ sự nghiệp công ở cấp xã.

[29] Chính phủ đã báo cáo, Bộ Chính trị đã Kết luận và Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành Nghị quyết 45/2026/QH16 về cơ chế đặc thù để xử lý một số khó khăn, vướng mắc đối với các dự án điện gió, điện mặt trời. Theo đó, sẽ xử lý, tháo gỡ vướng mắc cho 172 dự án, quy mô 9.779 MW, trị giá đến 13 tỷ USD.

[30] Bảo đảm tiến độ 1.932/2.011 nhiệm vụ (96,1%) theo Nghị quyết 57-NQ/TW; hoàn thành 1.326 nhiệm vụ (66,1%).

[31] Bố trí đủ 3% tổng chi NSNN cho KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

[32] VNeID trở thành kênh giao tiếp số chủ yếu giữa người dân và cơ quan quản lý nhà nước; đã cung cấp 85 tiện ích, tích hợp trên 40 triệu sổ sức khỏe điện tử; tiết kiệm chi phí xã hội khoảng 03 nghìn tỷ đồng/năm.

[33] Cả nước có 42 trung tâm dữ liệu thương mại, nhiều trung tâm đạt tiêu chuẩn quốc tế Tier III và TIA-942.

[34] Đẩy mạnh kết nối, tích hợp, liên thông dữ liệu quốc gia và chuyên ngành.

[35] Đồng thời, phê duyệt Chương trình khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia đặc biệt về công nghệ chiến lược; 11/28 nhiệm vụ công nghệ chiến lược đợt đầu (đã bao phủ 12/16 bài toán quốc gia).

TTXVN

Xem thêm