Chính sách và phát triển

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3: Phát triển trong giới hạn sinh thái, tăng cường liên kết vùng

Khi quy hoạch vùng thực sự phát huy vai trò điều phối, lợi thế của từng địa phương sẽ được đặt trong một không gian phát triển chung, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và xử lý tốt hơn những vấn đề liên tỉnh, liên vùng, tạo thêm dư địa cho phát triển bền vững.

Phiên bế mạc Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. 
Ảnh: Dương Giang - TTXVN

Nghị quyết Trung ương 3 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam xác định “tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng đa tầng, đa cực”; đồng thời yêu cầu “phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường”. Theo các chuyên gia, hiện thực hóa những định hướng này đòi hỏi tăng cường liên kết vùng, phát huy hiệu quả các nguồn lực, tháo gỡ những điểm nghẽn về quy hoạch, cơ chế điều phối và dữ liệu, qua đó tạo không gian phát triển hài hòa, bền vững.

*Phát triển không vượt quá sức chịu tải của môi trường

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường nhận định, công nghệ số đặc biệt có ý nghĩa khi gắn với phát triển kinh tế tuần hoàn. 
Ảnh: Thanh Hương - TTXVN

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Chinh, Phó Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường cho rằng, việc đặt ra “trần chịu tải” thể hiện cách nhìn phù hợp trong định hướng bảo vệ môi trường thời gian tới. Đất, nước, không khí, đa dạng sinh học đều có sức chịu tải nhất định. Ô nhiễm, suy thoái xảy ra khi con người khai thác, sử dụng tài nguyên hoặc đưa chất thải vào môi trường vượt quá giới hạn này. Các hệ sinh thái tự nhiên có khả năng điều tiết, hấp thụ và duy trì trạng thái cân bằng trong một giới hạn nhất định. Tuy nhiên, nếu tài nguyên bị khai thác quá mức hoặc lượng chất thải vượt khả năng hấp thụ của tự nhiên, trạng thái cân bằng sẽ bị phá vỡ. Vì vậy, xác định giới hạn chịu tải cũng đồng nghĩa với thay đổi cách nhìn về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường. Sức chịu tải cần được tính đến ngay từ quá trình hoạch định chính sách, lựa chọn phương án phát triển, bố trí hoạt động sản xuất và khai thác tài nguyên, qua đó vừa đạt mục tiêu kinh tế vừa bảo vệ nền tảng môi trường cho phát triển lâu dài.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Chinh nhấn mạnh, quản trị hiện đại, thông minh dựa trên nền tảng số, dữ liệu liên thông và giám sát theo thời gian thực sẽ tạo thêm công cụ cho quá trình chuyển đổi. Dữ liệu đầy đủ, cập nhật và chính xác giúp cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp tính toán tốt hơn bài toán kinh tế - môi trường, nhận diện mức độ khai thác tài nguyên, phát thải và lựa chọn phương án quản lý phù hợp. Công nghệ số đặc biệt có ý nghĩa khi gắn với phát triển kinh tế tuần hoàn. Theo nguyên tắc của kinh tế tuần hoàn, đầu ra của hoạt động kinh tế này có thể trở thành đầu vào của hoạt động kinh tế khác. Dữ liệu và công nghệ giúp tăng khả năng kết nối giữa các doanh nghiệp, qua đó sử dụng hiệu quả hơn sản phẩm phụ, nguyên liệu hoặc năng lượng đầu ra của nhau. Khi các dòng vật chất được tuần hoàn trở lại sản xuất, lượng tài nguyên đầu vào và chất thải ra môi trường cùng giảm, chi phí nguyên liệu, năng lượng được tối ưu. Đây cũng là hướng đi gắn với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp khi các yêu cầu về tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải, sản xuất thân thiện với môi trường ngày càng trở thành tiêu chuẩn của thị trường. Vì vậy, chuyển đổi xanh và kinh tế tuần hoàn không chỉ nhằm bảo vệ môi trường mà còn giúp doanh nghiệp thích ứng với những yêu cầu mới trong nước và quốc tế.

Để những mục tiêu đến năm 2045 chuyển thành thay đổi thực tế về chất lượng không khí, nguồn nước và môi trường sống, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thế Chinh cho rằng, bài toán nguồn lực cần được giải quyết ngay trong giai đoạn 2026-2030. Cùng với nguồn lực nhà nước dành cho bảo vệ môi trường, cần huy động khu vực tư nhân và tranh thủ hỗ trợ quốc tế. Sự phối hợp các nguồn lực sẽ tạo điều kiện đầu tư cho hạ tầng môi trường, đổi mới công nghệ và chuyển đổi mô hình sản xuất theo hướng xanh, bền vững hơn.

*Liên kết vùng để mở rộng không gian phát triển

Tiến sĩ Nguyễn Song Tùng, Viện trưởng Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) nhận định, trong bối cảnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, biến đổi khí hậu và những biến động của kinh tế thế giới, một không gian phát triển hợp lý phải giúp khai thác tốt nguồn lực nội sinh, tăng khả năng chống chịu và tạo được sự kết nối thực chất giữa các địa phương. Sau bốn thập kỷ Đổi mới, Việt Nam đã từng bước hình thành các vùng kinh tế - xã hội, vùng kinh tế trọng điểm, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và vùng động lực quốc gia. Tuy nhiên, sự phát triển vẫn tập trung mạnh tại một số cực lớn, trong khi những vùng còn hạn chế về hạ tầng, địa hình và khả năng kết nối chưa phát huy hết tiềm năng. Nhiều vấn đề phát triển hiện nay không thể giải quyết riêng trong phạm vi một tỉnh. Giao thông liên vùng, chuỗi logistics, vùng nguyên liệu, thị trường lao động đều cần sự tham gia của nhiều địa phương; nguồn nước, ô nhiễm môi trường, hành lang sinh thái và tác động của biến đổi khí hậu cũng không dừng lại ở ranh giới hành chính. Quy hoạch vùng cần tạo sự phân công, bổ trợ giữa các địa phương, thay vì để mỗi nơi theo đuổi một mô hình phát triển riêng.

Tiến sĩ Nguyễn Song Tùng cho rằng, những đổi mới của hệ thống pháp luật về quy hoạch đã tạo bước chuyển từ tư duy phân tán sang tích hợp, đa ngành và từng bước hình thành bộ khung không gian cho 6 vùng kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, khoảng cách giữa quy hoạch và thực tiễn vẫn còn. Có thời điểm quy hoạch của nhiều địa phương được hoàn thành trước quy hoạch vùng. Khi không gian phát triển của từng tỉnh đã được định hình trước, quy hoạch vùng khó phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt, phân công chức năng và điều phối các hoạt động liên tỉnh.

Việc xác định vùng kinh tế trọng điểm, vùng động lực cũng cần dựa trên những tiêu chí rõ ràng về mức độ tập trung kinh tế, nguồn nhân lực, vị trí địa kinh tế và khả năng kết nối hạ tầng. Nếu phạm vi vùng động lực được xác định quá rộng hoặc thiếu tiêu chí rõ ràng, nguồn lực có nguy cơ bị dàn trải, làm giảm khả năng tích tụ và sức lan tỏa của các cực tăng trưởng. Quy hoạch vùng cần tập trung vào những mục tiêu chiến lược gắn với lợi thế riêng, tránh tình trạng các địa phương cùng phát triển những ngành giống nhau. Sự phân công cần được thể hiện thông qua các cụm liên kết ngành, chuỗi giá trị, vùng nguyên liệu, hệ thống logistics và hạ tầng dùng chung. Khi lợi ích của từng địa phương được đặt trong chuỗi liên kết, hợp tác vùng mới có cơ sở chuyển từ yêu cầu hành chính thành nhu cầu phát triển thực tế.

Theo Tiến sĩ Nguyễn Song Tùng, một trong những điểm nghẽn của liên kết vùng hiện nay là nguồn lực cho các công trình liên tỉnh. Một tuyến giao thông, trung tâm logistics hay công trình xử lý chất thải có thể phục vụ nhiều địa phương nhưng dễ gặp khó khăn trong xác định trách nhiệm đầu tư và bố trí vốn. Vì vậy, việc nghiên cứu hình thành Quỹ đầu tư phát triển hạ tầng vùng có thể tạo nguồn lực cho những dự án mà một địa phương khó tự thực hiện. Nguồn vốn có thể được hình thành từ ngân sách Trung ương, sự tham gia của các địa phương, vốn quốc tế và nguồn lực xã hội hóa, hướng tới lợi ích chung của vùng. Cùng với tài chính, cơ chế điều phối cần đủ khả năng giải quyết những vấn đề mà một địa phương riêng lẻ không thể xử lý, gắn với tổ chức thực hiện và giám sát quy hoạch. Đồng thời, hệ thống dữ liệu GIS vùng kết hợp các chỉ tiêu thống kê về kinh tế, xã hội và môi trường sẽ giúp theo dõi các dòng chảy liên tỉnh, biến động tài nguyên, nguồn nước, hành lang sinh thái và nguy cơ ô nhiễm. Số hóa, công khai dữ liệu quy hoạch cũng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận thông tin và tăng khả năng giám sát quá trình thực hiện.

Tiến sĩ Nguyễn Song Tùng cho rằng, khi quy hoạch vùng thực sự phát huy vai trò điều phối, lợi thế của từng địa phương sẽ được đặt trong một không gian phát triển chung, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực và xử lý tốt hơn những vấn đề liên tỉnh, liên vùng, tạo thêm dư địa cho phát triển bền vững./.


Lý Thanh Hương

Xem thêm