Văn hóa

51 năm thống nhất đất nước: Những thước phim đi cùng năm tháng

51 năm trôi qua, chiến tranh đã lùi xa, nhưng những thước phim đen trắng của cố đạo diễn Hồng Sến sẽ mãi là một "di sản sống", nhắc nhở thế hệ hôm nay về cái giá của hòa bình và sức mạnh tiềm tàng của con người Việt Nam.

Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ mùa Xuân đại thắng năm 1975, qua dòng chảy thời gian, những thước phim về đề tài giải phóng miền Nam vẫn luôn giữ một vị trí trang trọng trong lòng khán giả. Đó không chỉ là điện ảnh, mà là những trang sử bằng hình ảnh, lưu giữ khí thế sục sôi và cả những nỗi niềm riêng biệt của một thời đại rực lửa.

"Cánh đồng hoang" công chiếu lần đầu tiên vào ngày 30/4/1979. 
Ảnh: Hãng phim Giải phóng.

*"Cánh đồng hoang" - bản hùng ca về sức sống mãnh liệt

Trong dòng chảy của điện ảnh cách mạng Việt Nam, có những tác phẩm đã vượt xa khuôn khổ của một bộ phim giải trí để trở thành trang sử bằng hình ảnh vô giá. 51 năm sau ngày giải phóng miền Nam, xem lại "Cánh đồng hoang" (1979) của cố đạo diễn, Nghệ sĩ Nhân dân Hồng Sến, chúng ta vẫn không khỏi xúc động trước sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam giữa lằn ranh sinh tử.

Ra đời chỉ 4 năm sau ngày đất nước thống nhất, "Cánh đồng hoang"(kịch bản của nhà văn Nguyễn Quang Sáng) không chọn cách tiếp cận những chiến dịch quy mô hay những trận đánh dàn hàng ngang rực lửa. Phim thu hẹp ống kính vào một không gian đặc trưng của miền Tây Nam bộ, vùng trũng Đồng Tháp Mười. Giữa bốn bề sông nước và những lùm cây thưa thớt, gia đình anh Ba Đô (cố Nghệ sĩ Nhân dân Lâm Tới) và chị Sáu Xoa (Nghệ sĩ Ưu tú Thúy An) cùng đứa con nhỏ sinh sống trong một căn chòi dựng tạm. Nhiệm vụ của họ là giữ đường dây liên lạc cho cách mạng. Cuộc sống của họ là sự đan xen giữa những sinh hoạt đời thường giản dị, bắt cá, nấu ăn, chăm con và những cuộc trốn chạy, đối đầu nghẹt thở với hỏa lực từ máy bay trực thăng của quân đội Mỹ.

Điểm làm nên sự kinh điển của "Cánh đồng hoang" chính là sự chân thực đến nghiệt ngã. Khán giả chắc chắn vẫn không quên phân cảnh đứa trẻ sơ sinh được cha mẹ đặt vào túi nylon, buộc chặt miệng rồi dìm xuống nước để tránh những loạt đạn từ trực thăng Mỹ đang rà soát trên đầu.

Đạo diễn, NSƯT Hồng Chi, con trai cố NSND Hồng Sến nhìn nhận: Khi xem lại "Cánh đồng hoang" ở thời điểm hiện tại, tôi vẫn thấy bộ phim giữ được giá trị bền vững về ngôn ngữ điện ảnh.
Ảnh: Hữu Duyên - TTXVN.

Đạo diễn, Nghệ sĩ Ưu tú Hồng Chi, con trai của cố Nghệ sĩ Nhân dân Hồng Sến nhìn nhận, hình ảnh đứa trẻ trong túi nylon là một sự sáng tạo sinh tồn đau đớn nhưng đầy kiêu hãnh. Đó là một trong những hình ảnh điện ảnh mạnh mẽ nhất của bộ phim. Cảnh quay đó không chỉ nói về sự sinh tồn, mà còn là một ẩn dụ rất rõ ràng về sức sống của con người và cả một dân tộc. "Dù chiến tranh có khốc liệt đến đâu, dù đối phương có sử dụng những phương tiện hiện đại như thế nào, thì ý chí con người vẫn không thể bị khuất phục. Hình ảnh gia đình Ba Đô và đứa trẻ không chỉ là câu chuyện của riêng họ, mà là đại diện cho rất nhiều con người trong hoàn cảnh đó. Tôi nghĩ, để có được một chi tiết như vậy, không chỉ cần kỹ năng làm nghề, mà còn cần vốn sống và trải nghiệm thực tế rất sâu của người đạo diễn", đạo diễn Hồng Chi phân tích.

Đánh giá về những thước phim do cha mình, cố Nghệ sĩ Nhân dân Hồng Sến làm đạo diễn, Nghệ sĩ Ưu tú Hồng Chi cho rằng: "Cánh đồng hoang" đã tạo nên một tiếng vang lớn khi giành Huy chương Vàng tại Liên hoan Phim quốc tế Moscow (năm 1981). Khi xem lại "Cánh đồng hoang" ở thời điểm hiện tại, tôi vẫn thấy bộ phim giữ được giá trị bền vững về ngôn ngữ điện ảnh. Điều làm nên sức mạnh của bộ phim, theo tôi, trước hết là tính khách quan trong cách nhìn của đạo diễn. Bộ phim không tiếp cận chiến tranh theo lối một chiều hay mang tính tuyên truyền đơn thuần, mà đặt con người – dù ở phía nào – vào trong những mất mát khốc liệt của chiến tranh.

Đã 51 năm trôi qua, chiến tranh đã lùi xa, nhưng những thước phim đen trắng của cố đạo diễn Hồng Sến sẽ mãi là một "di sản sống", nhắc nhở thế hệ hôm nay về cái giá của hòa bình và sức mạnh tiềm tàng của con người Việt Nam.

Một cảnh trong phim "Cánh đồng hoang".
Ảnh: Hãng phim Giải phóng.

*"Biệt động Sài Gòn"- huyền thoại về những chiến sĩ "giấu mặt"

Ra đời vào năm 1986, "Biệt động Sài Gòn" của cố đạo diễn, Nghệ sĩ Ưu tú Long Vân đã ghi dấu ấn là bộ phim dài tập đầu tiên của điện ảnh Việt Nam khai thác đề tài chiến tranh một cách đồ sộ và kịch tính. Tác phẩm đã tạo nên một "cơn sốt phòng vé" vào thập niên 80 của thế kỷ, trở thành ký ức không thể phai mờ trong lòng công chúng.

Lấy bối cảnh Sài Gòn trước năm 1975, bộ phim đã tái hiện một cách chân thực và sống động không khí căng thẳng của cuộc chiến tranh cục bộ. Không phải là những trận đánh giáp lá cà trên chiến trường rừng núi, "Biệt động Sài Gòn" đưa khán giả vào trung tâm của sự hiểm nguy, giữa lòng đô thị Sài Gòn.

Bà Vũ Minh Nghĩa (Bí danh Chính Nghĩa), nữ chiến sĩ duy nhất của lực lượng Biệt động Sài Gòn năm xưa từng hai lần tiến đánh vào Dinh Độc lập (Hội trường Thống nhất ngày nay) chia sẻ: Đó là những năm tháng khốc liệt, giữa lòng đô thị Sài Gòn, ranh giới giữa ta và địch trở nên mong manh hơn bao giờ hết. Nơi đó, những cuộc đấu trí nghẹt thở diễn ra hằng ngày, hằng giờ. Bộ phim "Biệt động Sài Gòn" đã tái hiện sinh động sự khốc liệt của giai đoạn lịch sử đó. Phim thành công trong việc xây dựng một không gian đối kháng đặc biệt, nơi cái chết có thể đến bất cứ lúc nào nhưng lòng dũng cảm và sự thông minh của con người luôn được đẩy lên cao nhất.

Bà Vũ Minh Nghĩa (Bí danh Chính Nghĩa) xúc động kể về những năm tháng hoạt động trong lực lượng "Biệt động Sài Gòn" năm xưa.
Ảnh: Hữu Duyên - TTXVN.

Sức sống bền bỉ của "Biệt động Sài Gòn" nằm ở hệ thống nhân vật được xây dựng quá đỗi xuất sắc. Những cái tên như Ni cô Huyền Trang (Nghệ sĩ Ưu tú Thanh Loan), Tư Chu (cố Nghệ sĩ Ưu tú Quang Thái), Bảy Bê (Nghệ sĩ Ưu tú Hai Nhất)… đã bước ra khỏi màn ảnh để trở thành biểu tượng sống động.

Giá trị nhân văn cao cả của tác phẩm nằm ở việc khắc họa sự hy sinh thầm lặng của những chiến sĩ "giấu mặt". Họ sống giữa lằn ranh sinh tử, sẵn sàng từ bỏ danh tính, từ bỏ hạnh phúc cá nhân, thậm chí là cả mạng sống để bảo vệ bí mật quân sự.

Phim đã chạm đến cảm xúc của người xem khi khai thác những góc khuất tình cảm, những nỗi đau chia ly và cả những mất mát không thể bù đắp. Sự thành công của bộ phim chính là việc khiến khán giả hiểu rằng: chiến thắng cuối cùng vào mùa xuân năm 1975 không chỉ được xây đắp bằng đạn bom, mà bằng chính máu xương và lòng quả cảm của những con người bình dị nhưng anh hùng.

Gần bốn thập niên trôi qua, những thước phim về chiến sĩ biệt động năm xưa vẫn luôn là niềm tự hào của điện ảnh nước nhà. Đó là bản anh hùng ca bất tử, nhắc nhở thế hệ hôm nay về một thời kỳ gian khổ nhưng oanh liệt, nơi những huyền thoại giấu mặt đã viết nên trang sử vàng cho dân tộc.

*"Ván bài lật ngửa" - đỉnh cao của dòng phim tình báo

Ra đời trong thập niên 80 của thế kỷ XX, bộ phim "Ván bài lật ngửa" của cố đạo diễn Khôi Nguyên (Lê Hoàng Hoa) đã vượt xa khuôn mẫu của một tác phẩm tuyên truyền để trở thành một tượng đài nghệ thuật tình báo kinh điển. Phim dựa trên bản thảo tiểu thuyết "Giữa biển giáo rừng gươm" của cố nhà văn, nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng. Nhắc đến thành công của "Ván bài lật ngửa", không thể không nhắc đến cố Nghệ sĩ Ưu tú Chánh Tín trong vai Đại tá Nguyễn Thành Luân. Đây được xem là vai diễn để đời, "đóng đinh" tên tuổi của ông vào lịch sử điện ảnh.

Khác với hình ảnh người chiến sĩ cách mạng thường thấy trên màn ảnh lúc bấy giờ (vốn thiên về sự giản dị, khắc khổ), Nguyễn Thành Luân xuất hiện với vẻ ngoài lịch lãm, nụ cười ẩn ý và phong thái ung dung trong những bộ vest sang trọng. Đó là hình ảnh một điệp viên đơn độc, hoạt động ngay trong lòng chính quyền Sài Gòn, đối đầu trực diện với những cái đầu lạnh lùng và xảo quyệt nhất của bộ máy bù nhìn. Nguyễn Thành Luân không chỉ đánh bại kẻ thù bằng súng đạn, mà bằng sự uyên bác, tư duy sắc bén và một bản lĩnh văn hóa vượt trội.

Cố đạo diễn Khôi Nguyên đã "thổi" vào bộ phim một ngôn ngữ điện ảnh hiện đại, mang hơi hướng của các dòng phim hành động phương Tây nhưng vẫn giữ trọn vẹn hồn cốt dân tộc. Cách dàn dựng kịch tính, âm nhạc xuất sắc và góc quay giàu tính nghệ thuật đã khiến bộ phim không hề bị lạc hậu dù trải qua hơn bốn thập kỷ.

Dù công nghệ điện ảnh ngày nay đã phát triển với kỹ xảo hoành tráng, nhưng những thước phim kinh điển như "Cánh đồng hoang", "Biệt động Sài Gòn" hay "Ván bài lật ngửa" vẫn có sức lay động sâu sắc bởi sự chân thực và tâm huyết của những người làm nghề từng đi qua khói lửa.

NSND Mỹ Uyên cho rằng việc xem lại những bộ phim lịch sử dịp lễ 30.4 là hành trình tìm về những giá trị lịch sử oai hùng, đáng trân trọng và gìn giữ.
Ảnh: Hữu Duyên - TTXVN.

Nghệ sĩ Nhân dân Mỹ Uyên, một gương mặt gạo cội của sân khấu kịch và điện ảnh Việt Nam, từng đóng nhiều vai về phim chiến tranh, hậu chiến và cả thời bình nhìn nhận, "Ván bài lật ngửa" cùng những tác phẩm điện ảnh cùng thời là những "điểm son" rực rỡ mà thế hệ cha ông để lại. Dù khai thác ở nhiều góc cạnh, nhiều khía cảnh khốc liệt của chiến tranh, nhưng cái hay của phim nằm ở sự chân thực, không cường điệu hóa, giúp khán giả cảm nhận sâu sắc sự hy sinh của cha ông.

"Những bộ phim như "Ván bài lật ngửa" đã khắc họa quá hay, quá dấu ấn về một thời oanh liệt. Đó không chỉ là nghệ thuật, mà là đời sống, là sự xúc động nghẹn ngào khi nhìn lại cái giá của hòa bình. Việc xem lại những thước phim này trong dịp đất nước kỷ niệm 51 năm thống nhất, không chỉ đơn giản như xem một bộ phim, mà là hành trình tìm về những giá trị lịch sự oai hùng, đáng trân trọng và gìn giữ", Nghệ sĩ Nhân dân Mỹ Uyên xúc động chia sẻ.

Xem lại những bộ phim này vào dịp lễ 30/4 không chỉ là để giải trí, mà còn là một cách để chúng ta nghiêng mình trước lịch sử, để hiểu rằng ý nghĩa của nền độc lập, tự do hôm nay là vô giá. Những nhân vật trên màn ảnh có thể là hư cấu, nhưng tinh thần và lòng quả cảm của họ chính là hơi thở thực sự của dân tộc Đại thắng mùa Xuân năm ấy./.


Hữu Duyên

Tin liên quan

Xem thêm