Chủ tịch Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam, Gs Ts Trần Hồng Thái: Chuyển mạnh từ trao đổi học thuật sang cùng phát triển công nghệ, cùng tạo ra tài sản trí tuệ
Một đối tác rất mạnh về công nghệ nhưng chỉ cung cấp thiết bị hoặc chuyển giao một quy trình hoàn chỉnh chưa chắc đã là đối tác phù hợp nhất cho mục tiêu dài hạn.
Trước bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh việc làm chủ các công nghệ chiến lược, giá trị của hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ được xác định không chỉ đo bằng số lượng chương trình, dự án hay công bố quốc tế, mà ở khả năng hấp thụ, làm chủ, cải tiến và phát triển công nghệ trong nước. Từ kết nối các mạng lưới khoa học toàn cầu đến hình thành đội ngũ, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ do Việt Nam tiếp tục phát triển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VAST) đang đứng trước bài toán chuyển hóa tri thức toàn cầu thành năng lực tự chủ công nghệ. Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam có cuộc trao đổi với Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Chủ tịch VAST), Phó Trưởng ban Chính sách và Chiến lược Trung ương về vấn đề trên.
*Phóng viên: Thưa Giáo sư, Tiến sĩ, Chủ tịch VAST, Trần Hồng Thái, trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hợp tác quốc tế về các công nghệ chiến lược, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhìn nhận vai trò của hợp tác quốc tế như thế nào? Đâu là những lĩnh vực ưu tiên hợp tác và từng giai đoạn cụ thể ?
*Giáo sư, Tiến sĩ, Chủ tịch Trần Hồng Thái: Việc xác định 10 nhóm công nghệ chiến lược đòi hỏi Việt Nam phải tăng cường hợp tác quốc tế để tiếp cận tri thức chuyên sâu, hạ tầng hiện đại và nguồn lực lớn, qua đó rút ngắn khoảng cách công nghệ. Tuy nhiên, mục tiêu không chỉ là tiếp nhận công nghệ, mà quan trọng hơn là hấp thụ, làm chủ và tiếp tục phát triển công nghệ trong nước.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chú trọng khai thác thế mạnh riêng của từng đối tác, từ nghiên cứu cơ bản, công nghệ lõi, hạ tầng, chế tạo đến đào tạo và thương mại hóa. Thay vì tìm một đối tác cho toàn bộ lĩnh vực, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam lựa chọn năng lực phù hợp với từng bài toán, từng khâu công nghệ và kết nối với nền tảng sẵn có của Việt Nam. Việc đa dạng hóa mạng lưới hợp tác với các quốc gia và tổ chức khoa học quốc tế nhằm tiếp cận những tri thức, chuyên gia và hạ tầng phù hợp nhất, chứ không chạy theo số lượng đối tác hợp tác.
Đến năm 2030, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam ưu tiên hợp tác trong những lĩnh vực đã có nền tảng nghiên cứu và đội ngũ như công nghệ sinh học, vật liệu tiên tiến, năng lượng, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, lượng tử, công nghệ vũ trụ, biển và đại dương. Trong từng lĩnh vực, Việt Nam cần tập trung vào những khâu có lợi thế hoặc khả năng tạo giá trị, tránh đầu tư dàn trải và không nhất thiết làm chủ ngay toàn bộ chuỗi công nghệ.
Về dài hạn, hợp tác cần chuyển từ trao đổi học thuật sang cùng phát triển công nghệ, xây dựng nhóm nghiên cứu và phòng thí nghiệm chung, đào tạo nhân lực và tạo ra sở hữu trí tuệ. Khi đó, hợp tác quốc tế sẽ trở thành phương thức nâng cao năng lực tự chủ, giúp Việt Nam biến thế mạnh của đối tác thành năng lực công nghệ của chính mình.
Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam xác định hợp tác quốc tế trong giai đoạn mới phải hướng tới đồng thời ba mục tiêu: tiếp cận tri thức và công nghệ tiên tiến; đào tạo được đội ngũ chuyên gia Việt Nam; từng bước hình thành công nghệ, bí quyết, dữ liệu và tài sản trí tuệ mà phía Việt Nam có khả năng làm chủ hoặc cùng sở hữu.
Vì vậy, chúng tôi cho rằng thước đo của một chương trình hợp tác không chỉ là số công bố hay công nghệ được chuyển giao, mà quan trọng hơn là sau chương trình đó Việt Nam có thêm bao nhiêu chuyên gia, làm chủ thêm được những phương pháp và khâu công nghệ nào, tích lũy thêm được những tài sản khoa học và sở hữu trí tuệ gì.
*Phóng viên: Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam lựa chọn đối tác quốc tế theo tiêu chí năng lực khoa học, công nghệ lõi, khả năng thương mại hóa hay khả năng cùng Việt Nam tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, thưa Giáo sư?
*Giáo sư, Tiến sĩ, Chủ tịch VAST, Trần Hồng Thái: Theo tôi, cả bốn yếu tố đều quan trọng, nhưng tiêu chí lựa chọn đối tác phải xuất phát trước hết từ mục tiêu mà Việt Nam cần đạt được trong từng lĩnh vực. Chúng ta cần xác định mình đang thiếu mắt xích nào, cần bổ sung năng lực gì, từ đó tìm kiếm đối tác có thế mạnh phù hợp nhất.
Đối với Viện Hàn lâm, năng lực khoa học và công nghệ lõi là điều kiện quan trọng, nhưng chưa đủ. Một đối tác rất mạnh về công nghệ nhưng chỉ cung cấp thiết bị hoặc chuyển giao một quy trình hoàn chỉnh chưa chắc đã là đối tác phù hợp nhất cho mục tiêu dài hạn. Chúng tôi đặc biệt coi trọng khả năng “cùng làm”, như: cùng xác định bài toán, cùng nghiên cứu, đào tạo cán bộ, khai thác hạ tầng, phát triển công nghệ và chia sẻ hợp lý quyền sở hữu trí tuệ đối với những kết quả được tạo ra.
Tiêu chí lựa chọn cũng khác nhau theo từng giai đoạn của chuỗi nghiên cứu và phát triển công nghệ. Ở giai đoạn nghiên cứu nền tảng, Viện Hàn lâm cần hợp tác với các viện nghiên cứu, trường đại học và phòng thí nghiệm hàng đầu để tiếp cận tri thức mới, chuyên gia và hạ tầng nghiên cứu lớn. Khi chuyển sang phát triển công nghệ, cần thêm những đối tác có năng lực kỹ thuật, chế tạo và thử nghiệm. Khi công nghệ tiến gần đến sản phẩm, vai trò của doanh nghiệp, thị trường, tiêu chuẩn và khả năng tham gia chuỗi giá trị quốc tế trở nên quan trọng hơn.
Công nghệ lượng tử là một ví dụ. Đây không phải là một công nghệ đơn lẻ mà là một hệ sinh thái từ khoa học nền tảng, vật liệu, quang tử, thiết bị, hạ tầng nghiên cứu đến tính toán, cảm biến và các ứng dụng. Vì vậy, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam không tìm kiếm một đối tác để tiếp nhận trọn gói “công nghệ lượng tử”, mà hợp tác với những đối tác khác nhau theo thế mạnh của họ, đồng thời kết nối các năng lực đó với các nhóm nghiên cứu vật lý, vật liệu, toán học và công nghệ số trong nước. Cách tiếp cận này cũng có thể áp dụng đối với những công nghệ chiến lược hiện nay như bán dẫn, năng lượng mới, y dược,…
Trong một công nghệ chiến lược có thể cần nhiều đối tác, mỗi đối tác đóng góp thế mạnh ở một mắt xích khác nhau. Đối tác chiến lược đối với VAST không chỉ là đối tác có công nghệ tiên tiến, mà phải có năng lực phù hợp và sẵn sàng cùng Việt Nam xây dựng năng lực lâu dài. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là đưa công nghệ vào Việt Nam, mà từng bước đưa các nhà khoa học, công nghệ và sản phẩm của Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới nghiên cứu và chuỗi giá trị quốc tế.
*Phóng viên: Trong các lĩnh vực như AI, bán dẫn, lượng tử, robot, vật liệu tiên tiến, công nghệ sinh học, vũ trụ và công nghệ biển, đâu là những lĩnh vực mà Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng Việt Nam có thể đi từ vị trí “học hỏi và tiếp nhận” sang “cùng sáng tạo” với các đối tác quốc tế, thưa Giáo sư?
*Giáo sư, Tiến sĩ, Chủ tịch VAST, Trần Hồng Thái: Tôi cho rằng “cùng sáng tạo” không có nghĩa Việt Nam phải ngay lập tức làm chủ toàn bộ một ngành công nghệ hay có năng lực giống hoàn toàn các quốc gia đi trước. Điều quan trọng là xác định được những lĩnh vực, những mắt xích mà chúng ta có tri thức, dữ liệu, nguồn lực khoa học và năng lực nghiên cứu đủ để đóng góp thực chất, từ đó cùng đối tác tạo ra tri thức, công nghệ hoặc sản phẩm mới. Với Viện Hàn lâm, tôi nhìn thấy ít nhất ba hướng có thể thúc đẩy quá trình này.
Trước tiên là ta bắt đầu với những lĩnh vực mà Việt Nam đã có nền tảng nghiên cứu tốt như toán học, vật lý, sinh học hay khoa học biển. Chẳng hạn trong công nghệ sinh học, lợi thế không chỉ nằm ở nguồn tài nguyên sinh học phong phú và đa dạng của Việt Nam, mà còn ở các bộ mẫu, dữ liệu, tri thức và đội ngũ nghiên cứu được tích lũy trong nhiều năm. Hiện nay Viện Hàn lâm có năng lực từ nghiên cứu đa dạng sinh học, sinh thái, nguồn gen đến sinh học phân tử và công nghệ sinh học. Tương tự, trong khoa học biển, chúng ta có dữ liệu, bộ mẫu, hiểu biết về Biển Đông và các hệ sinh thái biển nhiệt đới cùng đội ngũ nghiên cứu lâu năm. Đây là những tài sản khoa học có giá trị để Việt Nam bước vào hợp tác không chỉ với tư cách cung cấp đối tượng nghiên cứu, mà đóng góp tri thức, dữ liệu và năng lực để cùng tạo ra kết quả mới.
Tiếp theo là những lĩnh vực mới được hình thành tại giao điểm giữa thế mạnh khoa học của Viện Hàn lâm với công nghệ mới, chẳng hạn như ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau. Viện Hàn lâm có các bộ dữ liệu khoa học và chuyên gia sâu về sinh học, vật liệu, biển, môi trường, khoa học Trái đất và vũ trụ. Khi kết hợp những nguồn dữ liệu và tri thức chuyên ngành này với AI, có thể mở ra những hướng mới như phát hiện vật liệu, phân tích nguồn gen và dữ liệu sinh học, xử lý dữ liệu biển, ảnh vệ tinh, môi trường và thiên tai. Đây là lĩnh vực mà Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam có thể đóng góp bài toán khoa học, dữ liệu và tri thức chuyên ngành, đồng thời khai thác thế mạnh của các đối tác về mô hình, thuật toán và hạ tầng tính toán tiên tiến.
Cuối cùng là những công nghệ mà khoảng cách với các nước đi trước còn lớn nhưng Viện Hàn lâm đã có nền tảng khoa học để lựa chọn một số mắt xích tham gia, như vật liệu tiên tiến, công nghệ bán dẫn, lượng tử, hydrogen, công nghệ vệ tinh và vũ trụ. Chúng ta không nhất thiết bắt đầu bằng mục tiêu làm chủ toàn bộ chuỗi. Có thể đi từ vật liệu, cảm biến, quang tử, xúc tác, màng, một số cấu phần hoặc ứng dụng cụ thể mà các nhóm nghiên cứu Việt Nam có thế mạnh; thông qua hợp tác để đi sâu, tích lũy năng lực và từng bước mở rộng sang những khâu có giá trị cao hơn.
Theo chúng tôi trong giai đoạn hiện nay có lẽ bên cạnh vấn đề “đối tác có thể chuyển giao cho Việt Nam công nghệ gì?”, cần phải thực hiện được mục tiêu “Việt Nam có gì để cùng đối tác tạo ra giá trị mới?”. Khi xác định rõ tài sản khoa học, thế mạnh và những mắt xích mình có thể đóng góp, chúng ta có thể từng bước chuyển từ vị trí học hỏi và tiếp nhận sang một đối tác cùng nghiên cứu, cùng phát triển và cùng sáng tạo.
*Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái./.

