Theo Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Nghị quyết đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo; các nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn.
Quán triệt những nội dung chủ yếu của Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV diễn ra sáng 29/7, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh, việc ban hành Nghị quyết là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng yêu cầu mở rộng không gian phát triển quốc gia, đổi mới quản trị biển hiện đại và phát huy vai trò chiến lược của biển trong phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế.
*Tư duy mới và đột phá về biển
Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị khẳng định, Nghị quyết thể hiện tầm nhìn chiến lược với những tư duy mới và đột phá về biển.
Tư duy xuyên suốt là chuyển mạnh từ phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh; từ khai thác tài nguyên sang quản trị, khai thác hiệu quả không gian biển quốc gia trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Định hướng là phát triển quốc gia có năng lực quản trị biển hiện đại, kinh tế biển phát triển, khoa học công nghệ biển tiên tiến, có năng lực bảo vệ chủ quyền biển đảo và vị thế quốc tế về biển, đưa biển thực sự trở thành một trong những trụ cột quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nghị quyết cũng xác định biển là không gian phát triển chiến lược, nơi hình thành các cực tăng trưởng, các ngành kinh tế và động lực phát triển mới; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu cho phát triển biển; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển.
Nghị quyết đề xuất mô hình quản trị biển hiện đại, thống nhất, liên thông trên cơ sở dữ liệu và quy hoạch không gian biển quốc gia, bảo đảm quản lý tổng hợp mặt biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, các đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển; gắn kết chặt chẽ giữa đất liền với biển, đảo, giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Đồng thời, các chương trình hành động phải được cụ thể hóa, có cơ chế kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện.
*Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia
Theo Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Nghị quyết đề ra 5 nhóm quan điểm chỉ đạo; các nhóm mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn.
Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết xác định rõ vai trò của biển là không gian phát triển chiến lược, là nền tảng quan trọng của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Xây dựng quốc gia biển mạnh là chiến lược lâu dài gắn chặt với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải có nền quản trị biển hiện đại, kinh tế biển phát triển, khoa học công nghệ biển tiên tiến, môi trường bền vững, văn hóa giàu bản sắc, cộng đồng cư dân giàu mạnh, quốc phòng - an ninh vững chắc và hội nhập quốc tế thực chất.
Cùng với đó, đổi mới mạnh mẽ tư duy, hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh và quản trị biển hiện đại; chuyển từ khai thác biển sang quản trị biển hiện đại, từ phát triển kinh tế biển sang phát triển quốc gia biển mạnh, từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia. Hoàn thiện thể chế phát triển quốc gia biển mạnh là đột phá chiến lược; phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, khơi thông tiềm năng, lợi thế của biển, hải đảo; hình thành các cực tăng trưởng, trung tâm kinh tế, hành lang kinh tế biển, gắn kết đất liền - biển - hải đảo và các không gian phát triển mới.
Nghị quyết nhấn mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao là động lực chính cho phát triển quốc gia biển mạnh, trọng tâm đẩy mạnh điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển, làm chủ công nghệ biển và đại dương.
Nghị quyết cũng xác định phát triển quốc gia biển mạnh trên cơ sở khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển theo hướng xanh, thông minh, phát triển trong giới hạn sinh thái và khả năng chịu tải của môi trường biển, đại dương; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, biến đổi đại dương; nâng cao khả năng chống chịu, năng lực phòng, chống thiên tai, giảm thiểu rủi ro.
Quan điểm tiếp theo là phát huy sức mạnh tổng hợp, đề ra trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các nhóm chủ thể trong xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh. Xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh là nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị; là quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân; bảo đảm đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và sự tham gia tích cực, có trách nhiệm của các chủ thể trong xã hội. Phát huy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng vươn ra biển lớn; phát triển đất nước theo hướng biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo.
Về mục tiêu, Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030; tầm nhìn đến năm 2045, trong đó có 6 nhóm mục tiêu cần đạt được trong giai đoạn 2026 - 2030 tạo tiền đề xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh, bao gồm các nhóm về: Kinh tế; Phát triển không gian biển, hạ tầng biển; Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững; Văn hóa, xã hội; Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại.
Để hiện thực hóa các mục tiêu này, Nghị quyết xác định 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn, tập trung vào các nội dung: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức về phát triển quốc gia biển mạnh, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị biển quốc gia; Hoàn thiện thể chế, đổi mới công tác quy hoạch không gian biển quốc gia, tạo đột phá phát triển quốc gia biển mạnh; Huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn.
Các nhiệm vụ, giải pháp tiếp theo là: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao; Đột phá phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại, xanh, thông minh và các ngành, lĩnh vực biển mới; Phát triển đồng bộ hạ tầng biển, mở rộng không gian phát triển quốc gia, hình thành các trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia và khu vực; Bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển, hải đảo.
Nghị quyết đề ra nhiệm vụ xây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân, phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo; tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia./.


