Sau nhiều năm tập trung vào nghiên cứu cơ bản, nhiều hướng ứng dụng như truyền thông lượng tử và cảm biến lượng tử đã từng bước được thương mại hóa, trong khi các hệ thống tính toán lượng tử tiếp tục được đầu tư để hướng tới khả năng ứng dụng trên quy mô lớn.
Công nghệ lượng tử đang trở thành một trong những lĩnh vực được nhiều quốc gia ưu tiên đầu tư nhằm tạo lợi thế cạnh tranh về khoa học, công nghệ và an ninh. Sau nhiều năm tập trung vào nghiên cứu cơ bản, nhiều hướng ứng dụng như truyền thông lượng tử và cảm biến lượng tử đã từng bước được thương mại hóa, trong khi các hệ thống tính toán lượng tử tiếp tục được đầu tư để hướng tới khả năng ứng dụng trên quy mô lớn.
Tại Việt Nam, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực đột phá cho phát triển đất nước. Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đưa công nghệ an ninh mạng và lượng tử vào Danh mục 10 nhóm công nghệ chiến lược quốc gia. Đây được xem là nền tảng quan trọng để Việt Nam từng bước xây dựng năng lực nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và làm chủ công nghệ lượng tử, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ và sức cạnh tranh quốc gia trong kỷ nguyên mới.
* Việt Nam cần có bước đi sớm
Theo số liệu được Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hưng, Viện trưởng Viện Công nghệ Lượng tử (Đại học Quốc gia Hà Nội) dẫn từ báo cáo của McKinsey & Company (công ty tư vấn quản lý chiến lược toàn cầu), vốn đầu tư cho các doanh nghiệp khởi nghiệp công nghệ lượng tử trong năm 2025 tăng mạnh so với năm trước, trong đó phần lớn nguồn lực vẫn tập trung cho lĩnh vực tính toán lượng tử.
Cùng với việc gia tăng đầu tư, các quốc gia có nền công nghệ phát triển cũng tăng cường kiểm soát xuất khẩu đối với các thiết bị và linh kiện phục vụ nghiên cứu lượng tử như hệ thống làm lạnh nhiệt độ cực thấp, thiết bị điện tử cao tần hay các linh kiện chuyên dụng. Điều này khiến việc tiếp cận công nghệ ngày càng khó khăn đối với các quốc gia đi sau.
Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hưng nhận định, đây là thời điểm Việt Nam cần có bước đi sớm nếu muốn tham gia vào chuỗi phát triển công nghệ lượng tử. Việt Nam đã bỏ lỡ một số giai đoạn phát triển của các công nghệ nền tảng trước đây, nhưng vẫn còn cơ hội nếu nhanh chóng xây dựng năng lực nghiên cứu, đào tạo nhân lực và từng bước làm chủ các công nghệ cốt lõi. Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hưng đánh giá, trong khu vực Đông Nam Á, Singapore hiện là quốc gia đi đầu với hệ sinh thái nghiên cứu và phát triển khá hoàn chỉnh. Một số nước như Thái Lan, Malaysia và Indonesia cũng đang hình thành các mạng lưới hợp tác, tổ chức diễn đàn chuyên ngành và mở rộng nghiên cứu về công nghệ lượng tử. Việt Nam cũng đã có những động thái cụ thể nhằm đưa công nghệ lượng tử bước vào hành trình phát triển của đất nước, đồng thời góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong lĩnh vực công nghệ lượng tử tại khu vực. Việt Nam sẽ tổ chức Cuộc thi Quantum Hackathon dành cho khu vực Đông Nam Á vào tháng 7/2026 và đăng cai ASEAN Quantum Summit vào tháng 10/2026.
Việc Đại học Quốc gia Hà Nội thành lập Viện Công nghệ Lượng tử cũng là một bước đi nhằm cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhất là Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị. Theo định hướng, Viện sẽ tập trung xây dựng hạ tầng nghiên cứu, phát triển công nghệ lõi, đào tạo nguồn nhân lực và mở rộng hợp tác quốc tế, từng bước hình thành hệ sinh thái nghiên cứu công nghệ lượng tử.
Tuy nhiên, theo đánh giá của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hưng, công nghệ lượng tử ở Việt Nam hiện vẫn đang ở giai đoạn đầu, năng lực nghiên cứu và cơ chế vận hành còn nhiều hạn chế. Các nhóm nghiên cứu còn phân tán, chủ yếu thực hiện nghiên cứu lý thuyết; chương trình đào tạo chuyên sâu chưa nhiều; doanh nghiệp chưa tham gia đáng kể; hạ tầng nghiên cứu và kỹ thuật còn thiếu. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn. Đó là chưa có chương trình quốc gia về công nghệ lượng tử và cơ chế điều phối liên ngành; thiếu đội ngũ chuyên gia và kỹ sư có trình độ chuyên sâu; hạ tầng phòng thí nghiệm, thiết bị nghiên cứu còn hạn chế; cơ chế tài chính và đánh giá nhiệm vụ khoa học chưa phù hợp với đặc thù của lĩnh vực có chu kỳ đầu tư dài, rủi ro cao. Mối liên kết giữa cơ quan quản lý, cơ sở nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cũng chưa thực sự chặt chẽ.
Từ thực tiễn đó, Tiến sĩ Nguyễn Quốc Hưng đề xuất, Việt Nam cần lựa chọn hướng đi phù hợp thay vì đầu tư dàn trải trên toàn bộ chuỗi giá trị. Trước mắt, cần ưu tiên những lĩnh vực có nhu cầu thực tiễn và phù hợp với năng lực hiện có như truyền thông lượng tử, mật mã hậu lượng tử, cảm biến lượng tử và đào tạo nhân lực. Đồng thời, cần sớm xây dựng Chương trình quốc gia về công nghệ lượng tử, thiết lập cơ chế điều phối thống nhất, mở rộng hợp tác quốc tế có chọn lọc và xây dựng lộ trình phát triển theo từng giai đoạn.
* Yếu tố quan trọng trong cạnh tranh chiến lược
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Diệu, Giám đốc Trung tâm Công nghệ và Chuyển đổi số (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), tầm nhìn phát triển đất nước được xác lập tại Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí là động lực quan trọng để tạo bứt phá phát triển, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Những mục tiêu đến năm 2030 như tăng trưởng GDP trên 10%/năm, thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD, kinh tế số chiếm trên 30% GDP, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp trên 55% và đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt khoảng 2% GDP; cùng tầm nhìn đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển có quy mô GDP khoảng 2.500 tỷ USD và thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, đòi hỏi phải có những bước đột phá về mô hình quản trị quốc gia.
Quá trình chuyển đổi đó cần sự thay đổi về tư duy quản trị sang hướng quản trị kiến tạo, hậu kiểm, xóa bỏ cơ chế "xin - cho", xây dựng chính quyền địa phương hai cấp theo hướng phục vụ và đồng sáng tạo. Phương thức quản trị cũng cần chuyển từ quản lý theo quy trình sang quản trị dựa trên kết quả.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Diệu cho rằng, thế giới đang chứng kiến sự chuyển dịch từ quản trị số sang quản trị lượng tử. Theo đó, quản trị lượng tử hướng tới khai thác sức mạnh của tính toán quantumbit, khả năng xử lý song song và tối ưu hóa các bài toán phức tạp.
Chia sẻ về mô hình quản trị lượng tử với biến số Q (Quantum Learning), Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Diệu cho rằng đây là điểm khác biệt cơ bản so với mô hình số hóa trước đây. Mô hình này cho phép dữ liệu lớn không chỉ phục vụ quản lý mà còn trở thành công cụ để thiết kế chính sách phù hợp với từng nhóm đối tượng. Cũng theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Quang Diệu, nhiều quốc gia và khu vực như Mỹ, Liên minh châu Âu, Canada, các nước G7 hay Đan Mạch đã ban hành chiến lược, đạo luật và chương trình đầu tư quy mô lớn cho công nghệ lượng tử, đồng thời xây dựng các trung tâm nghiên cứu, mạng lưới hạ tầng và tiêu chuẩn mới về an toàn thông tin. Điều này cho thấy công nghệ lượng tử không còn là xu hướng nghiên cứu trong tương lai mà đang trở thành một yếu tố quan trọng trong cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia. Đối với Việt Nam, việc chuẩn bị sớm về thể chế, năng lực quản trị, nguồn nhân lực và hạ tầng khoa học - công nghệ sẽ là điều kiện để tận dụng cơ hội và nâng cao năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên phát triển mới.
* Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc
Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái; Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, công nghệ lượng tử là một lĩnh vực rất khó, đòi hỏi trình độ cao về khoa học, công nghệ, hạ tầng và nhân lực. Nhiều hướng nghiên cứu trên thế giới vẫn đang trong quá trình thử nghiệm, kiểm chứng và chưa thể tạo ra ngay các sản phẩm thương mại quy mô lớn. Việt Nam không thể đứng ngoài hoặc chờ đến khi mọi thứ đã hoàn thiện mới bắt đầu tham gia. Nếu chậm chuẩn bị, khi tiêu chuẩn công nghệ, chuỗi cung ứng và thị trường đã được định hình thì cơ hội sẽ thu hẹp đáng kể.
“Phải thẳng thắn khẳng định: Nếu vì khó mà chúng ta đứng ngoài, chậm theo dõi, chậm chuẩn bị thì sau này chúng ta sẽ rất bị động. Có những công nghệ khi sản phẩm đã rõ ràng rồi mới bắt đầu học thì vẫn còn kịp. Nhưng cũng có những công nghệ, nhất là công nghệ chiến lược, nếu đợi khi mọi thứ rõ ràng, tiêu chuẩn đã được xác định, thị trường đã định hình, chuỗi cung ứng đã được kiểm soát thì khi đó muốn tham gia cũng rất khó”, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái nêu rõ.
Do đó, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái cho rằng, lý do đầu tiên khiến Việt Nam phải quan tâm đến công nghệ lượng tử là vì nhiều quốc gia đã coi đây là một hướng công nghệ chiến lược. Một lý do khác, rất gần với Việt Nam, là vấn đề an toàn dữ liệu. Bên cạnh đó, công nghệ lượng tử có thể tạo ra các năng lực mới về đo lường, cảm biến, mô phỏng, tính toán, vật liệu. Những năng lực đó có thể phục vụ khoa học cơ bản, nhưng cũng có thể đi vào quốc phòng, an ninh, viễn thông, tài chính, y tế, năng lượng, tài nguyên, môi trường, công nghiệp công nghệ cao.
Cũng theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái nhân lực cho công nghệ lượng tử không thể đào tạo trong một vài tháng; không thể có ngay bằng một khóa tập huấn. Đây là nhân lực liên ngành: vật lý, toán học, khoa học máy tính, mật mã, quang tử, vật liệu, điện tử, điều khiển, đo lường, phần mềm, dữ liệu. Muốn có lực lượng đó, phải chuẩn bị sớm, phải có nhóm nghiên cứu, phải có phòng thí nghiệm, phải có bài toán, phải có người trẻ được dẫn dắt, phải có chuyên gia trong và ngoài nước cùng tham gia.
Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái nhận định, với điều kiện Việt Nam hiện nay, câu hỏi đúng không phải là: Việt Nam có làm lượng tử hay không mà là Việt Nam tham gia vào công nghệ lượng tử bằng cách nào, ở khâu nào, với mức độ nào, để tạo ra năng lực thật cho đất nước. Với công nghệ lượng tử, nếu chỉ đếm số đề tài, số hội thảo, số thiết bị, số văn bản hợp tác, thì chưa đủ. Những việc đó cần, nhưng chưa đủ. Công nghệ lượng tử là lĩnh vực dài hạn, chính vì dài hạn nên càng phải tích lũy, không tích lũy thì không đi xa được. Khi xây dựng Đề án phát triển công nghệ lượng tử, cần tránh làm theo phong trào, làm phân tán và tránh cách nghĩ rằng cứ mua thiết bị là có công nghệ.
Công nghệ lượng tử đang trở thành một trong những lĩnh vực cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia. Với nền tảng chính sách đã được xác lập, Việt Nam đã có điều kiện để từng bước tham gia cuộc đua công nghệ mới. Đây không chỉ là cơ hội tiếp cận công nghệ chiến lược mà còn là yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Muốn vậy, cần có lộ trình đầu tư dài hạn, trọng tâm và sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp./.
- Từ khóa:
- Công nghệ lượng tử
- cơ hội
- Việt Nam

