Văn hóa

Di sản vun đắp sức mạnh cộng đồng, khơi nguồn phát triển văn hóa

Câu chuyện giao hảo giữa hai làng Vạn Phúc - Nga My không chỉ là ký ức đẹp của văn hóa làng Việt, mà còn gợi mở cách nhìn mới về phát huy di sản trong kỷ nguyên phát triển.

Giữa nhịp sống hiện đại, khi nhiều giá trị truyền thống đang đứng trước những thách thức của quá trình đô thị hóa và toàn cầu hóa, tục kết chạ - một phong tục có từ hàng trăm, hàng nghìn năm ở nhiều làng quê Bắc Bộ - vẫn được gìn giữ như một biểu tượng của tinh thần đoàn kết, nghĩa tình và gắn kết cộng đồng.

Dân làng Vạn Phúc thực hiện nghi lễ đón các Quan anh làng Nga My về Lễ thánh tại Đình chính Vạn Phúc. 
Ảnh: TTXVN phát

* Nghìn năm nghĩa tình giao hảo

Trong hai ngày 18-19/7/2026 (tức ngày 5, 6 tháng 6 Âm lịch), người dân hai làng Vạn Phúc (thuộc xã Vạn Phúc, huyện Thanh Trì cũ, nay thuộc xã Nam Phù, Hà Nội) và làng Nga My (thuộc xã Thanh Mai, huyện Thanh Oai cũ, nay thuộc xã Thanh Oai, Hà Nội) hân hoan tổ chức các hoạt động văn hóa, nghệ thuật kỷ niệm 1.000 năm nghĩa tình giao hảo. Trong đó, Lễ kỷ niệm 1.000 năm nghĩa tình giao hảo Vạn Phúc - Nga My diễn ra ngày 19/7, tại đình chính Vạn Phúc (thôn 1 Vạn Phúc, xã Nam Phù, Hà Nội), là dịp để cộng đồng cùng nhìn lại hành trình nghìn năm của một phong tục đẹp, đồng thời khẳng định vai trò của người dân trong việc gìn giữ, trao truyền và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống giữa nhịp sống đương đại.

Điểm nhấn của lễ kỷ niệm là chương trình nghệ thuật sử thi "Vạn Phúc - Nga My: Làng cổ bao đời, sáng ngời sử tích" - một tác phẩm được sáng tạo riêng cho dấu mốc 1.000 năm nghĩa tình giao hảo giữa hai làng. Chương trình được dàn dựng như một bản trường ca sân khấu, nơi tư liệu lịch sử, âm nhạc, múa, lời bình và nghệ thuật trình diễn hòa quyện để đánh thức ký ức của một vùng đất. Từ hình tượng những dòng sông bồi đắp phù sa, tiếng trống hội, nhịp lao động trên con đê Đỉnh Nhĩ đến nghi lễ kết chạ được gìn giữ qua nhiều thế kỷ, tất cả tạo nên một không gian nghệ thuật giàu tính sử thi nhưng vẫn gần gũi với đời sống đương đại…

Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng, tục kết chạ giữa làng Vạn Phúc và làng Nga My có từ lâu đời, được lưu truyền như một biểu tượng đẹp của tinh thần đoàn kết, nghĩa tình của người Việt Nam. Không chỉ là lời hẹn giữa hai làng, tục kết chạ còn là minh chứng sinh động cho sức sống bền bỉ của văn hóa làng Việt, nơi những giá trị nhân văn được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, vượt qua mọi biến thiên của lịch sử.

Đông đảo người dân đến dự Lễ kỷ niệm 1.000 năm nghĩa tình giao hảo Vạn Phúc - Nga My. 
Ảnh: TTXVN phát

Các nhà nghiên cứu văn hóa cho rằng, điều làm nên sự đặc biệt của tục kết chạ Vạn Phúc - Nga My không chỉ nằm ở bề dày thời gian 1.000 năm, mà còn ở hệ thống cứ liệu lịch sử phong phú vẫn còn được lưu giữ đến hôm nay. Từ thần phả, sắc phong của các triều đại phong kiến, đến những văn bản Hán Nôm quý giá còn bảo tồn tại đình làng, tất cả đều góp phần xác lập tính liên tục của một mối giao hảo hiếm có trong lịch sử văn hóa dân gian Việt Nam.

Theo thần phả và truyền thuyết lưu truyền trong dân gian, tục kết chạ được hình thành từ thời vua Lý Thái Tổ sau khi dời đô ra Thăng Long. Tương truyền, đoạn đê Đỉnh Nhĩ ở phía Nam kinh thành liên tục bị vỡ trong nhiều năm, gây lụt lội, mất mùa và ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống nhân dân. Sau khi nhà vua ban chiếu huy động dân làng Vạn Phúc tham gia đắp đê, công việc mới hoàn thành. Biết được người dân Vạn Phúc đã thay mình gánh vác việc hộ đê trên địa phận của Nga My, dân làng Nga My đã xin được kết nghĩa giao hảo để từ đó hai làng cùng giúp đỡ nhau trong lao động, sản xuất, phòng chống thiên tai và tổ chức đời sống cộng đồng. Mối giao hảo ấy được nhà vua chuẩn thuận và trở thành một tục lệ bền vững kéo dài suốt nhiều thế kỷ.

Từ truyền thuyết ấy, một phong tục mang đậm tính nhân văn đã hình thành. Người dân hai làng tôn nhau là "Quan anh", xưng "chúng em"; trai gái hai làng không kết hôn vì coi nhau như anh em một nhà; vào mỗi dịp lễ hội đều cử đoàn đại diện sang thăm hỏi, cùng tế lễ Thành hoàng, cùng kiểm tra đê điều, chia sẻ công việc chung của cộng đồng. Đó là một hình thức "kết nghĩa cộng đồng" rất đặc sắc, phản ánh tư tưởng "đồng cam cộng khổ", cùng nhau bảo vệ sự sống của cư dân vùng châu thổ sông Hồng.

Giá trị ấy không chỉ được lưu giữ trong ký ức dân gian, mà còn được chứng thực bằng nhiều văn bản lịch sử có giá trị đặc biệt. Trong tài liệu Thông báo Hán Nôm học 2011 của Phó giáo sư, Tiến sĩ Bùi Xuân Đính (Viện Dân tộc học) và Tiến sĩ Nguyễn Thu Hiền (Bảo tàng Hà Nội) đã công bố hệ thống bảy văn bản Hán Nôm còn lưu giữ tại đình làng Nga My và Vạn Phúc, có niên đại từ thời Tự Đức đến Bảo Đại. Đây là những tư liệu quý phản ánh sinh động cách thức duy trì tục kết chạ trong đời sống làng xã qua nhiều triều đại.

Các văn bản không chỉ ghi chép việc mời nhau dự hội, xin phép triều đình tổ chức lễ nghênh thần, quy định nghi thức đón tiếp giữa hai làng, mà còn lưu lại những minh chứng cảm động về sự tương trợ lẫn nhau. Khi đình làng Vạn Phúc bị lũ sông Hồng làm hư hại vào cuối thế kỷ XIX, người dân Nga My đã quyên góp tiền của, lễ vật để chung tay tu sửa. Ngược lại, khi Nga My trùng tu đình làng hay được phong sắc Thành hoàng, người dân Vạn Phúc cũng mang lễ vật sang chúc mừng, bái tạ thần linh và tri ân "Quan anh". Những văn bản ấy cho thấy tục kết chạ không phải là một nghi lễ hình thức, mà là mối quan hệ cộng đồng được thực hành liên tục trong đời sống xã hội, từ việc lớn của làng đến những biến cố của từng cộng đồng cư dân.

Nhà sử học Lê Văn Lan cho rằng, trong kho tàng văn hóa làng xã Việt Nam, tục kết chạ giữa Vạn Phúc và Nga My là một trường hợp đặc biệt hiếm có. Theo ông, điều đáng quý trước hết là niên đại hàng thiên niên kỷ, gắn với thời kỳ đầu xây dựng kinh đô Thăng Long dưới triều Lý. Hiếm có một mối giao hảo nào của cư dân đồng bằng Bắc Bộ được duy trì liên tục trong khoảng thời gian dài như vậy.

* Tục kết chạ - di sản sống của văn hóa làng Việt

Trong kho tàng di sản văn hóa Việt Nam, có những giá trị được lưu giữ bằng những ngôi đình cổ, đền đài, bia đá hay hiện vật quý hiếm. Nhưng cũng có những di sản không hiện hữu bằng vật chất, mà tồn tại trong ký ức cộng đồng, trong lời hẹn ước của tiền nhân và trong cách con người đối đãi với nhau qua nhiều thế hệ. Tục kết chạ là một di sản như thế.

Tục kết chạ (còn gọi là kết nghĩa, ăn chạ, đi chạ, đi nước nghĩa hay giao hiếu…) là một trong những phong tục lâu đời và giàu giá trị nhân văn của cư dân vùng đồng bằng Bắc Bộ. Hình thành từ nhu cầu gắn kết cộng đồng trong quá trình khai phá, trị thủy, phát triển sản xuất, bảo vệ cuộc sống trước thiên tai, địch họa và cùng tổ chức các sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, tục kết chạ đã trở thành sợi dây bền chặt kết nối các làng quê Việt qua nhiều thế kỷ. Không chỉ là một hình thức giao hảo giữa các cộng đồng cư dân, tục kết chạ còn kết tinh những giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam như tinh thần đoàn kết, trọng nghĩa tình, đề cao lễ nghĩa, sự hy sinh và tương trợ lẫn nhau, góp phần bồi đắp bản sắc văn hóa, nuôi dưỡng tinh thần cố kết cộng đồng và trao truyền những giá trị tốt đẹp của dân tộc từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Trao tặng biểu tượng giao hảo giữa hai làng Vạn Phúc - Nga My. 
Ảnh: TTXVN phát

Theo nhà sử học Lê Văn Lan, giá trị lớn nhất của tục kết chạ không nằm ở những nghi lễ hay quy ước được lưu truyền, mà ở tinh thần nhân văn được kết tinh trong đó. Đó là triết lý sống "có trước có sau", coi trọng nghĩa tình hơn lợi ích, lấy cộng đồng làm nền tảng để xây dựng cuộc sống bền vững. Chính vì vậy, tục kết chạ Vạn Phúc - Nga My không chỉ là một phong tục cổ, mà còn là bài học văn hóa vẫn còn nguyên giá trị đối với xã hội hôm nay.

Nếu như trong quá khứ, tục kết chạ giúp các cộng đồng cư dân đồng bằng Bắc Bộ cùng nhau trị thủy, chống thiên tai, xây dựng cuộc sống và vun đắp nghĩa tình làng xóm, thì trong bối cảnh hiện nay, giá trị của di sản ấy không dừng lại ở việc bảo tồn một phong tục cổ. Điều quan trọng hơn là làm thế nào để những giá trị được kết tinh qua hàng nghìn năm tiếp tục trở thành nguồn lực cho phát triển văn hóa, giáo dục, du lịch và công nghiệp văn hóa.

Đó cũng là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Lần đầu tiên, văn hóa được xác định không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn là nguồn lực nội sinh, động lực quan trọng cho phát triển đất nước. Di sản vì thế không còn được nhìn nhận như những giá trị cần gìn giữ đơn thuần, mà phải được "đánh thức", được chuyển hóa thành sức mạnh mềm, thành sản phẩm sáng tạo và thành động lực phát triển kinh tế - xã hội.

Tại Phiên họp lần thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khái niệm "chủ quyền văn hóa" như một yêu cầu của thời đại số. Nếu trước đây, chủ quyền chủ yếu được nhìn nhận ở lãnh thổ, biên giới hay không gian biển, thì ngày nay, khả năng gìn giữ bản sắc, làm chủ các giá trị văn hóa và lan tỏa hệ giá trị Việt Nam trên không gian số cũng trở thành một phương diện quan trọng của sức mạnh quốc gia.

Ở góc nhìn đó, tục kết chạ Vạn Phúc - Nga My không chỉ là câu chuyện của hai ngôi làng hay của một vùng quê Bắc Bộ. Đó là một mảnh ghép trong bức tranh lớn về chủ quyền văn hóa Việt Nam. Mỗi phong tục được gìn giữ, mỗi di sản được trao truyền, mỗi câu chuyện lịch sử được kể lại bằng ngôn ngữ của thời đại hôm nay đều góp phần làm giàu thêm sức mạnh mềm quốc gia. Khi mỗi người Việt Nam hiểu và tự hào về những giá trị ấy, văn hóa Việt Nam sẽ không chỉ được bảo vệ trước nguy cơ mai một, mà còn đủ sức lan tỏa, đối thoại và khẳng định vị thế trong dòng chảy văn hóa toàn cầu.

Câu chuyện một nghìn năm giao hảo giữa hai làng Vạn Phúc - Nga My không chỉ là ký ức đẹp của văn hóa làng Việt, mà còn gợi mở cách nhìn mới về phát huy di sản trong kỷ nguyên phát triển. Đó cũng chính là tinh thần mà Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị và chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang hướng tới: đưa di sản bước ra khỏi không gian bảo tồn để trở thành nguồn lực nội sinh, sức mạnh mềm và động lực phát triển đất nước./.

Lộc Phương Lan

Xem thêm