Xã hội

Hồng Dân: Những nghề xưa tìm chỗ đứng trong đời sống mới

Cà Mau

Trong bối cảnh sản phẩm công nghiệp ngày càng phong phú, các làng nghề truyền thống nơi đây đang tìm cách thích ứng, cải tiến sản phẩm, mở rộng thị trường.

Hồng Dân là một vùng đất nằm quanh co uốn lượn theo các dòng sông, có nhiều làng nghề truyền thống trăm năm của tỉnh Cà Mau. 
Ảnh: Tuấn Kiệt – TTXVN

Qua nhiều thế hệ, những lò rèn, khung dệt chiếu, nghề làm bánh tằm, làm bún, đan lát... vẫn hiện diện trong đời sống người dân Hồng Dân. Trong bối cảnh sản phẩm công nghiệp ngày càng phong phú, các làng nghề truyền thống nơi đây đang tìm cách thích ứng, cải tiến sản phẩm, mở rộng thị trường nhưng vẫn giữ những bí quyết nghề nghiệp được trao truyền qua nhiều thế hệ.

* Từ bí quyết của người thợ

Ở ấp Thống Nhất, xã Hồng Dân, tiếng búa đập trên đe và ánh lửa đỏ từ những lò rèn vẫn là âm thanh quen thuộc. Nơi đây được biết đến với nghề rèn dao Ngan Dừa, một nghề hình thành và phát triển mạnh từ những năm đầu thế kỷ XX, từng tạo dựng tiếng vang ở Nam Kỳ lục tỉnh.

Sự tồn tại của nghề qua hơn một thế kỷ không chỉ đến từ nhu cầu sử dụng dao trong đời sống mà còn nằm ở kỹ thuật và kinh nghiệm riêng của người thợ. Trong khi thị trường hiện có nhiều loại dao sản xuất bằng công nghệ hiện đại, dao Ngan Dừa vẫn được nhiều gia đình lựa chọn bởi độ sắc và độ bền.

Anh Quách Văn Nguyên, chủ lò rèn Tư Hây, là thế hệ thứ tư trong gia đình theo nghề, cho biết chất lượng của dao Ngan Dừa nằm ở bí quyết “cặp thép”. Từ những thanh sắt ban đầu, người thợ phải thực hiện nhiều công đoạn, từ nung, rèn, tạo hình đến tôi luyện, mài sắc. Mỗi khâu đều cần sự chính xác và kinh nghiệm tích lũy qua thời gian.

Anh Quách Văn Nguyên (lò rèn Tư Hây), ấp Thống Nhất, xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau là đời thứ 4 của gia đình làm nghề rèn dao. 
Ảnh: Tuấn Kiệt – TTXVN

Với những gia đình theo nghề, công việc ấy không đơn thuần là một phương thức kiếm sống. Tiếng búa, tiếng đe và ánh lửa lò rèn đã trở thành một phần ký ức, gắn với cuộc sống của nhiều thế hệ.

Nếu nghề rèn thể hiện rõ dấu ấn của kỹ thuật thủ công thì nghề làm bánh tằm lại lưu giữ một phần văn hóa ẩm thực của vùng đất Hồng Dân.

Bánh tằm Ngan Dừa được làm từ gạo Một bụi đỏ của địa phương. Gạo và nếp được xay theo tỷ lệ nhất định, sau đó trải qua các công đoạn hấp, se và giũ bột với nước cốt dừa. Trong đó, se bánh là khâu đòi hỏi sự khéo léo khi người làm phải dùng tay bắt từng sợi bột, tạo thành những sợi bánh nhỏ giống hình con tằm.

Chị Nguyễn Thị Hiền, một nghệ nhân có nhiều năm gắn bó với nghề, cho biết ở khu vực chị sinh sống, các bé gái thường được làm quen với việc se bánh từ nhỏ. Nhiều gia đình cùng làm nghề nên nơi đây còn được gọi bằng cái tên thân mật là “xóm bánh tằm”.

Những kỹ thuật tưởng như rất giản dị ấy lại chính là yếu tố tạo nên sự khác biệt của sản phẩm. Trong mỗi món ăn, mỗi sản phẩm thủ công là một phần kinh nghiệm của người đi trước được truyền lại cho thế hệ sau.

* Những khung dệt giữ nhịp làng nghề

Cùng với nghề rèn và nghề làm bánh, dệt chiếu là một nghề truyền thống khác vẫn được duy trì tại ấp Thống Nhất.

Bà Nguyễn Thị Năm, 85 tuổi, không nhớ chính xác nghề dệt chiếu xuất hiện tại địa phương từ khi nào. Điều bà nhớ rõ là từ thuở nhỏ, bà đã thấy mẹ mình ngồi bên khung dệt.

Để hoàn thành một đôi chiếu, người thợ phải thực hiện nhiều công đoạn liên tiếp. Lác được chẻ thành từng sợi nhỏ, sau đó phơi khô, nhuộm màu rồi mới đưa lên khung dệt. Công đoạn chẻ lác đòi hỏi sự khéo léo bởi cọng lác mềm và dễ đứt. Chỉ với một con dao nhỏ, người thợ có thể tách một cọng lác thành 5-6 sợi tương đối đều nhau.

Qua nhiều thăng trầm, nhưng người dân xã Hồng Dân, tỉnh Cà Mau vẫn bám trụ với nghề dệt chiếu. 
Ảnh: Tuấn Kiệt – TTXVN

Đến công đoạn dệt, hai người thợ phải phối hợp nhịp nhàng. Một người chuồi, sắp xếp từng sợi lác theo màu vào go; người còn lại điều khiển thân go, dập, úp, ngửa, xoay trái, xoay phải và bẻ bìa để các sợi lác liên kết chặt với nhau.

Chị Trương Thị Tám, nghệ nhân dệt chiếu lâu năm, cho biết nếu làm chiếu chợ, hai người có thể hoàn thành khoảng 4-5 đôi mỗi ngày. Với chiếu đặt, loại dày và chất lượng cao hơn, năng suất khoảng hai đôi/ngày.

Đặc biệt, những đôi chiếu bông có các dòng chữ như “Trăm năm hạnh phúc”, “Vu quy”, “Song hỷ” cần nhiều thời gian và công sức hơn. Một đôi có thể mất từ 2-3 ngày mới hoàn thành.

Để đáp ứng nhu cầu thị trường, sản phẩm chiếu Ngan Dừa hiện đã có nhiều kiểu dáng. Chiếu thường có giá khoảng 150.000-200.000 đồng/đôi; chiếu có chữ khoảng 400.000-500.000 đồng/đôi. Sau khi trừ chi phí nguyên liệu và thuốc nhuộm, thu nhập bình quân của người thợ khoảng 150.000-200.000 đồng/ngày.

Mức thu nhập này chưa phải là cao, nhưng với nhiều gia đình, nghề dệt vẫn là công việc ổn định, có thể duy trì lâu dài và tạo thêm nguồn thu ngay tại quê nhà.

* Mỗi làng nghề một câu chuyện

Không chỉ có ấp Thống Nhất, nhiều khu vực khác của xã Hồng Dân cũng hình thành những nghề gắn với điều kiện tự nhiên và đời sống cộng đồng.

Tại ấp Xẻo Quao, người dân duy trì nghề làm bánh tráng và đan đát lục bình thành các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Trong khi đó, ấp Bà Hiên và Bà Gồng, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, vẫn giữ nghề làm bún và chế biến mắm cá trắm cỏ.

Nghề đan đát tuy cho thu nhập không cao để người dân có thể làm giàu, nhưng là công việc ổn định, giúp nuôi sống nhiều gia đình. 
Ảnh: Tuấn Kiệt – TTXVN

Mắm cá trắm cỏ Hồng Dân có cách chế biến riêng. Cá vốn nhiều xương, nhưng qua công đoạn trộn và ủ theo bí quyết của người dân, phần xương trở nên giòn, thịt cá béo nhưng không ngấy, tạo nên hương vị riêng của vùng đất.

Món mắm này có thể chưng cách thủy với thịt ba chỉ, tóp mỡ, gừng, hành đỏ, ớt, tiêu, tỏi; cũng có thể chiên hoặc chế biến theo nhiều cách khác nhau, ăn cùng các loại rau đồng, cà tím, chuối chát, khế chua.

Những nghề ấy có điểm chung là đều xuất phát từ nhu cầu của đời sống. Qua thời gian, sản phẩm được điều chỉnh để phù hợp hơn với thị trường nhưng vẫn giữ phương thức chế biến, kỹ thuật hoặc bí quyết đặc trưng. Đó chính là lý do các làng nghề có thể tồn tại trong một thị trường ngày càng có nhiều sản phẩm công nghiệp.

Theo ông Nguyễn Nhân Đức, Chủ tịch UBND xã Hồng Dân, địa phương là vùng đất nằm quanh co theo các dòng sông, nơi văn hóa của ba dân tộc Kinh, Hoa, Khmer giao thoa trong quá trình khai phá, lập ấp.

Điều đáng tự hào là dù chỉ là một vùng quê, Hồng Dân có hàng chục làng nghề truyền thống với lịch sử hàng trăm năm. Hiện xã có gần 300 hộ duy trì các nghề như rèn, dệt chiếu, làm mộc, làm bánh tằm..., tạo việc làm cho khoảng 1.500 lao động.

Ông Nguyễn Nhân Đức cho biết, nghề truyền thống dù chưa phải là lĩnh vực giúp người dân làm giàu nhanh chóng, nhưng lại mang đến việc làm tương đối ổn định, góp phần nuôi sống các gia đình qua nhiều thế hệ. Quan trọng hơn, nghề còn tạo cho người trẻ một sinh kế ngay tại quê hương.

Để các làng nghề có thể thích ứng với thị trường, Hồng Dân xác định cần hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn vốn, đầu tư máy móc, thiết bị phù hợp, nâng cao tay nghề và cải tiến mẫu mã. Cùng với đó là đẩy mạnh quảng bá, giới thiệu sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu và nâng cao giá trị hàng hóa làng nghề.

Trên thực tế, sự thay đổi đang diễn ra ngay trong chính cách những người thợ đưa sản phẩm ra thị trường. Nếu trước đây sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ tại địa phương thì nay nhiều nghệ nhân chủ động tham gia các hội chợ, triển lãm trong và ngoài tỉnh để giới thiệu sản phẩm, tìm kiếm khách hàng. Không ít gia đình còn sử dụng mạng xã hội như một kênh quảng bá, kết nối người mua và mở rộng thị trường.

Có thể thấy, phía sau mỗi sản phẩm truyền thống là ký ức của cộng đồng, là những tri thức dân gian được tích lũy qua nhiều thế hệ. Khi các sản phẩm truyền thống biết tìm cách bước vào thị trường hiện đại, những nghề trăm năm không chỉ được bảo tồn mà còn có thêm cơ hội để sống cùng thời đại, tiếp tục tạo việc làm, tạo sản phẩm và trao truyền niềm tự hào nghề nghiệp cho các thế hệ mai sau.

PV

Xem thêm