Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI: Đề xuất hoàn thiện quy định về chứng cứ điện tử
Các ý kiến nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện quy định pháp luật để đáp ứng thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia.
Đề xuất hoàn thiện cơ chế thu thập, xác thực chứng cứ điện tử, xử lý khẩn cấp tài sản số, đồng thời bảo đảm quyền con người, quyền riêng tư trong tố tụng hình sự là những vấn đề được đại biểu Quốc hội quan tâm khi thảo luận tại tổ về dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) sáng 20/10. Các ý kiến nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện quy định pháp luật để đáp ứng thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm công nghệ cao, tội phạm xuyên quốc gia.
Góp ý vào dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà (Hà Nội) cho rằng việc hoàn thiện thể chế tố tụng điện tử, quy trình thu thập, trích xuất, xác thực chứng cứ, dữ liệu điện tử và cơ chế tố tụng khẩn cấp để ngăn chặn tội phạm sử dụng công nghệ cao, tài sản số là những vấn đề cần được quan tâm.
Theo đại biểu, dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi) đã có bước tiến đáng kể khi bổ sung nguyên tắc hoạt động tố tụng điện tử tại Điều 18, quy định về dữ liệu điện tử tại Điều 104, chữ ký điện tử tại khoản 3 Điều 144, biên bản điện tử tại Điều 145 và tống đạt văn bản điện tử tại Điều 155. Tuy nhiên, đối chiếu với thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trên không gian mạng thì nhận thấy vẫn còn những điểm nghẽn cần tháo gỡ.
Về giá trị chứng cứ và quy trình thu thập dữ liệu điện tử, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cho rằng quy định tại khoản 3 Điều 104 và Điều 118 của dự thảo vẫn tiếp cận theo tư duy tố tụng truyền thống, chủ yếu tập trung vào việc thu giữ thông điệp điện tử và thiết bị phần cứng như máy tính, điện thoại. Trong khi đó, dữ liệu điện tử chứng minh tội phạm thường được lưu trữ phân tán trên điện toán đám mây, máy chủ đặt tại nước ngoài hoặc nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới. “Việc buộc phải thu giữ thiết bị phần cứng mới công nhận chứng cứ dữ liệu điện tử, theo tôi, vừa không khả thi đối với dữ liệu lưu trữ đám mây, vừa làm đình trệ hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của các doanh nghiệp, tổ chức”, đại biểu thảo luận.
Do đó, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà đề nghị chỉnh lý khoản 3 Điều 104 theo hướng công nhận dữ liệu điện tử được trích xuất, sao lưu trực tiếp từ hệ thống thông tin, nền tảng số, dịch vụ lưu trữ đám mây, có chữ ký số hoặc mã băm xác thực tính toàn vẹn, là nguồn chứng cứ có giá trị chứng minh trực tiếp như bản gốc; không bắt buộc thu giữ thiết bị lưu trữ phần cứng gốc, trừ trường hợp cần thiết phải giám định thiết bị.
Đối với cơ chế tống đạt văn bản tố tụng điện tử, đại biểu Đỗ Đức Hồng Hà cho rằng dự thảo chưa quy định cụ thể thời điểm tính hiệu lực tống đạt khi người nhận cố tình không truy cập, không mở ứng dụng hoặc không xác nhận đã nhận văn bản. Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung quy định văn bản tố tụng gửi qua Ứng dụng định danh điện tử quốc gia hoặc Hệ thống quản lý án hình sự được coi là đã cấp, giao hợp lệ khi hệ thống ghi nhận gửi thành công đến tài khoản người nhận. Sau 12 giờ kể từ thời điểm này, nếu người nhận không mở xem mà không có lý do bất khả kháng, thời hạn tố tụng được tính từ thời điểm hệ thống ghi nhận gửi thành công.
Thảo luận tại tổ, đại biểu Lê Nhật Thành cũng góp ý nhiều nội dung liên quan đến dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), trong đó nhấn mạnh việc hoàn thiện quy định về vòng đeo điện tử, thu thập, bảo quản chứng cứ điện tử và các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt.
Về biện pháp gắn vòng đeo điện tử, đại biểu cho rằng cần làm rõ vị trí pháp lý, nguyên tắc áp dụng trong mối quan hệ với các biện pháp ngăn chặn khác, đồng thời quy định cụ thể các trường hợp áp dụng. Đây là biện pháp liên quan trực tiếp đến quyền tự do đi lại, đời sống riêng tư và dữ liệu cá nhân của người bị áp dụng.
Đối với dữ liệu điện tử, đại biểu đề nghị bổ sung các nguyên tắc ghi nhận nguồn, phương pháp, thời điểm thu thập, người thực hiện, biện pháp kiểm tra tính toàn vẹn, lịch sử truy cập, sao chép, chuyển đổi và công cụ kỹ thuật được sử dụng. Đại biểu cũng lưu ý cần bảo đảm khả năng xác định nguồn dữ liệu, kiểm chứng độ tin cậy, sai số đối với dữ liệu do hệ thống tự động, thuật toán hoặc trí tuệ nhân tạo tạo ra; đồng thời bảo đảm quyền tiếp cận, phản bác của các bên.
Về phục hồi, tìm kiếm, giám định dữ liệu điện tử, đại biểu đề nghị bổ sung trường hợp được can thiệp trên dữ liệu gốc khi không thể thực hiện trên bản sao, với điều kiện do người có thẩm quyền quyết định, người có chuyên môn thực hiện và ghi nhận đầy đủ các thao tác. Đồng thời, cần làm rõ giá trị pháp lý của bản sao dữ liệu điện tử, cơ chế đối chiếu dữ liệu gốc với dữ liệu phục hồi và việc kiểm tra, đánh giá dữ liệu tại phiên tòa.
Đối với các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt, đại biểu Lê Nhật Thành cho rằng tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ngày càng tận dụng phương thức liên lạc mã hóa, mạng riêng ảo, tiền điện tử, tài khoản ngân hàng ở nước ngoài, trí tuệ nhân tạo và các nền tảng xuyên biên giới. Cơ cấu tổ chức phân tầng, khép kín khiến việc điều tra theo phương thức truyền thống gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, đại biểu nhất trí với sự cần thiết bổ sung các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt như bí mật kiểm soát việc vận chuyển, giao nhận tài sản, đồ vật liên quan đến tội phạm và bí mật đưa người vào tổ chức tội phạm; đồng thời đề nghị áp dụng từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra để đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Góp ý vào dự án Luật Thỏa thuận quốc tế (sửa đổi), đại biểu Trần Việt Anh nhất trí với sự cần thiết sửa đổi luật nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình thi hành Luật năm 2020, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và chủ trương đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Dự thảo luật đã quy định cơ chế áp dụng trình tự, thủ tục rút gọn đối với một số trường hợp, trong đó có việc rút ngắn thời gian lấy ý kiến từ 7 ngày xuống còn 3 hoặc 5 ngày, tạo thuận lợi cho các cơ quan thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, đối với các Tuyên bố chung của lãnh đạo cấp cao, đại biểu đề xuất nghiên cứu cơ chế rút gọn hơn nữa, phù hợp với đặc thù các văn bản thường được đàm phán đến sát thời điểm thông qua. Theo đó, có thể rút gọn các khâu trung gian, cho phép cơ quan chủ trì lấy ý kiến trực tiếp đại diện các bộ, ngành trong thành phần đàm phán và trình thẳng cấp có thẩm quyền thông qua Tuyên bố chung.
Đại biểu Trần Việt Anh cũng đề nghị cân nhắc cơ chế cho phép cấp có thẩm quyền quyết định trước về chủ trương và các nguyên tắc lớn. Nếu kết quả đàm phán đạt được các nguyên tắc, chủ trương đã thống nhất và nội dung tương tự các văn kiện Việt Nam đã ký kết trước đó thì không cần báo cáo lại.
Bên cạnh đó, về quy định tại khoản 2 Điều 42 giao Bộ Ngoại giao quản lý hoạt động đối ngoại đối với thỏa thuận quốc tế nhân danh cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở Trung ương trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đại biểu đề nghị cân nhắc giao nhiệm vụ này cho các cơ quan quản lý theo chuyên ngành, nhằm bảo đảm phù hợp hơn với chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan./.


