Khoa học - Sáng tạo

Lạng Sơn duy trì và phát triển khoảng 3.500 ha cây dược liệu

Chiều 6/10, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn tổ chức Hội thảo “Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ trong phát huy tiềm năng, nâng cao giá trị và phát triển bền vững dược liệu Lạng Sơn”.

Thạc sĩ Đỗ Thu Hạnh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn phát biểu khai mạc Hội thảo. 
Ảnh: Anh Tuấn – TTXVN

Khai mạc Hội thảo, Thạc sĩ Đỗ Thu Hạnh, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh cho biết, Lạng Sơn là tỉnh miền núi có điều kiện tự nhiên, sinh thái đa dạng, cùng nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú và vốn tri thức bản địa về sử dụng dược liệu được hình thành, lưu truyền qua nhiều thế hệ. Đây là những lợi thế quan trọng để tỉnh phát triển dược liệu gắn với chăm sóc sức khỏe nhân dân, phát triển sản xuất hàng hóa và nâng cao thu nhập cho người dân.

Những năm qua, tỉnh đã quan tâm triển khai nhiều hoạt động điều tra, đánh giá tài nguyên, bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, nuôi trồng, xây dựng mô hình và ứng dụng kết quả nghiên cứu đối với một số loài dược liệu có giá trị. Một số kết quả nghiên cứu đã từng bước được đưa vào sản xuất và đời sống, tạo tiền đề cho việc phát triển vùng nguyên liệu và sản phẩm dược liệu trên địa bàn.

Tuy nhiên, nguồn nguyên liệu ở một số nơi còn phân tán, quy mô sản xuất chưa ổn định; việc chuẩn hóa giống, quy trình nuôi trồng, thu hái, sơ chế, chế biến và kiểm soát chất lượng còn cần tiếp tục hoàn thiện. Mối liên kết giữa nghiên cứu với sản xuất, chế biến và thị trường chưa thật sự chặt chẽ; một số kết quả nghiên cứu chưa được chuyển giao, nhân rộng tương xứng với tiềm năng…

Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lạng Sơn nhấn mạnh, các viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức khoa học và công nghệ có thế mạnh về tri thức, công nghệ và nghiên cứu; các địa phương có tiềm năng về tài nguyên và vùng nguyên liệu; doanh nghiệp, hợp tác xã có vai trò tổ chức sản xuất, chế biến và kết nối thị trường. Việc tăng cường liên kết giữa các chủ thể sẽ tạo điều kiện để kết quả nghiên cứu được chuyển giao, ứng dụng và phát triển thành các mô hình, sản phẩm cụ thể.

Cán bộ chuyên môn kiểm tra tiến độ sinh trưởng của cây Bách Bộ tại vườn trồng ở xã Lộc Bình, Lạng Sơn. 
Ảnh: TTXVN phát

Tại Hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học và các cơ quan, đơn vị đã đánh giá thực trạng, tiềm năng và lợi thế của tỉnh trong bảo tồn, phát triển và khai thác nguồn dược liệu; đồng thời nhìn nhận đầy đủ hơn những kết quả đã đạt được, những khó khăn, hạn chế; chia sẻ kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm thực tiễn, công nghệ và các giải pháp có tính khả thi trong bảo tồn nguồn gen, phát triển vùng nguyên liệu, ứng dụng khoa học và công nghệ, chế biến, kiểm soát chất lượng và nâng cao giá trị sản phẩm dược liệu.

Tiến sĩ Ngô Xuân Nghiễn, Phó Giám đốc Viện Nghiên cứu và Phát triển Vi tảo, Nấm và Dược liệu – Học viện Nông nghiệp Việt Nam nhìn nhận, Lạng Sơn là vùng núi cao với nhiều thung lũng, khí hậu mát mẻ, biên độ dao động nhiệt ngày/đêm khá lớn. Độ ẩm không khí cao ở các vùng rừng tự nhiên rất thích hợp cho sự sinh trưởng tự nhiên của các loại nấm dược liệu quý (linh chi, vân chi, đầu khỉ, đông trùng hạ thảo). Bên cạnh đó, tỉnh còn có diện tích rừng tự nhiên khá lớn. Đây là không gian phù hợp để phát triển mô hình nuôi trồng nấm dược liệu dưới tán rừng; mô hình nuôi trồng theo hướng tự nhiên có kiểm soát điều kiện sinh thái. Trong khi đó, ngành lâm nghiệp Lạng Sơn phát triển mạnh cung cấp lượng lớn mùn cưa và khúc gỗ mềm từ cây keo, tạp mềm... làm nguồn nguyên liệu chính phục vụ nuôi trồng nấm dược liệu quy mô công nghiệp. Với vị trí giao thương biên giới nằm tại cửa ngõ nối liền Trung Quốc qua các cửa khẩu quốc tế lớn, Lạng Sơn có nhiều lợi thế để xuất khẩu chính ngạch sản phẩm nấm dược liệu chất lượng cao sang thị trường Trung Quốc và các nước khu vực.

Theo Phó Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Lạng Sơn Nguyễn Thị Kim Loan, địa phương nằm trong vùng dược liệu trọng điểm Đông Bắc (cùng các tỉnh Bắc Giang, Yên Bái, Quảng Ninh) theo quy hoạch phát triển dược liệu của cả nước, với định hướng phát triển khoảng 16 loài dược liệu, gồm 13 loài bản địa (Ba kích, Đinh lăng, Địa liền, Gấc, Giảo cổ lam, Ích mẫu, Kim tiền thảo, Hồi, Quế, Sả, Sa nhân tím, Thanh hao hoa vàng, Ý dĩ) và 3 loài nhập nội (Bạch chỉ, Bạch truật, Địa hoàng). Diện tích đất lâm nghiệp lớn, hệ sinh thái rừng đa dạng là dư địa quan trọng để phát triển các mô hình dược liệu dưới tán rừng tạo thêm giá trị kinh tế, vừa góp phần bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

Hiện nay, tổng diện tích trồng cây dược liệu dưới tán rừng trên địa bàn toàn tỉnh hơn 1.056 ha, đạt 52,8% so với mục tiêu, chủ yếu do các hộ gia đình tự đầu tư với các loài cây như: Sa nhân tím, Ba kích, Cát sâm, Trà Hoa vàng, Khôi nhung, Gừng, Hoàng tinh hoa trắng và Bảy lá một hoa… tương đối phù hợp với điều kiện đất đai, thổ nhưỡng của tỉnh, có tiềm năng, đem lại hiệu quả kinh tế, ước đạt 20 – 50 triệu đồng/ha/năm (tùy loài cây), nâng cao giá trị trên đơn vị diện tích rừng, giúp người dân có nguồn thu nhập, lấy ngắn nuôi dài. Điển hình như mô hình trồng Trà hoa vàng dưới tán rừng Thông Mã vĩ tại xã Thái Bình, mô hình trồng cây Khôi nhung dưới tán rừng Hồi tại xã Mẫu Sơn, mô hình trồng Cát sâm dưới tán rừng Hồi tại xã Hưng Vũ… Đặc biệt, cây Hồi tiếp tục khẳng định vai trò là cây trồng chủ lực tại Lạng Sơn, có giá trị đặc biệt của tỉnh. Sản phẩm Hoa hồi Lạng Sơn đã được bảo hộ Chỉ dẫn địa lý (Quyết định số 149/QĐ-SHTT ngày 15/02/2007), gắn với vùng địa lý gồm nhiều xã trọng điểm. Giá trị sản xuất từ cây Hồi hiện đạt khoảng 1.700 tỷ đồng/năm.

Trà hoa vàng được nhân dân trồng phổ biến ở xã Xuân Dương, Lạng Sơn.
 Ảnh: TTXVN phát

Giám đốc Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Lạng Sơn Bùi Thị Mẫn thông tin, Lạng Sơn đã ghi nhận 933 loài thuộc 564 chi, 186 họ của 6 ngành thực vật và nấm có công dụng làm thuốc; xác định 50 loài thuộc diện bảo tồn cấp quốc gia, 14 loài hoặc nhóm loài có tiềm năng khai thác và 16 loài hoặc nhóm loài có tiềm năng phát triển. Toàn tỉnh phấn đấu duy trì và phát triển khoảng 3.500 ha cây dược liệu... Từ góc độ ngành Y tế, giá trị của dược liệu chỉ được xác lập đầy đủ khi nguồn nguyên liệu được định danh đúng, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc, chế biến phù hợp và chuyển thành thuốc cổ truyền, thuốc dược liệu, vị thuốc, sản phẩm chăm sóc sức khỏe hoặc dịch vụ y học cổ truyền an toàn, hiệu quả. Định hướng của tỉnh chuyển từ khai thác tiềm năng riêng lẻ sang quản lý và phát triển theo chuỗi giá trị, lấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân làm điểm xuất phát, khoa học và công nghệ làm công cụ, chất lượng và bằng chứng làm điều kiện, thị trường hợp pháp làm động lực.

Mạng lưới cung cấp dịch vụ y học cổ truyền của tỉnh đã được hình thành tương đối rộng. Toàn tỉnh có 14 bệnh viện triển khai hoạt động y học cổ truyền, gồm 13 bệnh viện công lập và 1 bệnh viện tư nhân; trong đó có 1 bệnh viện chuyên khoa y học cổ truyền. Các phòng khám đa khoa tư nhân có hoạt động khám, điều trị ngoại trú bằng y học cổ truyền và phục hồi chức năng; các trạm y tế xã, phường tổ chức khám, chữa bệnh bằng y học cổ truyền theo phạm vi hoạt động chuyên môn. Đây là nền tảng để đưa kết quả nghiên cứu và sản phẩm dược liệu vào thực tiễn chăm sóc sức khỏe./.


Anh Tuấn

Tin liên quan

Xem thêm