Khoa học

Ngoại giao khoa học công nghệ: Đưa mạng lưới khoa học quốc tế thành nguồn lực phát triển

Việt Nam phải xây dựng, kết nối và phát huy hiệu quả các mạng lưới khoa học quốc tế, qua đó, đưa khoa học Việt Nam ra thế giới và đưa thế giới đến Việt Nam cùng làm khoa học, giải quyết những bài toán phát triển lớn của đất nước.

Công nghệ Việt Nam gây ấn tượng tại diễn đàn hàng đầu thế giới về robot và tự động hóa. 
Ảnh: Vũ Hiệp - TTXVN

Trong quá trình hội nhập quốc tế, khoa học Việt Nam không chỉ tiếp cận những thành tựu mới của thế giới mà còn phải từng bước tham gia sâu hơn vào các mạng lưới nghiên cứu, tổ chức và cộng đồng khoa học quốc tế. Đây là cách để Việt Nam nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ, đưa tri thức và nguồn lực khoa học toàn cầu về phục vụ những bài toán phát triển của đất nước.

* Kết nối các mạng lưới khoa học toàn cầu

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. 
Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN

Từ thực tiễn hoạt động của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, trong triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, hợp tác quốc tế về khoa học, công nghệ phải trực tiếp góp phần nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia, hỗ trợ Việt Nam từng bước làm chủ các công nghệ chiến lược và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là một trong những sứ mệnh cốt lõi của ngoại giao khoa học. Do đó, Việt Nam phải xây dựng, kết nối và phát huy hiệu quả các mạng lưới khoa học quốc tế, qua đó đưa khoa học Việt Nam ra thế giới và đưa thế giới đến Việt Nam cùng làm khoa học, giải quyết những bài toán phát triển lớn của đất nước.

Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái đề xuất bốn hướng hành động có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trước hết là đưa cán bộ Việt Nam ra thế giới, tham gia trực tiếp vào những nơi tri thức và công nghệ mới đang được hình thành. Bởi muốn từng bước làm chủ công nghệ, Việt Nam không thể chỉ tiếp nhận những kết quả đã hoàn thiện mà phải có mặt từ sớm trong các chương trình, phòng thí nghiệm và hạ tầng nghiên cứu quốc tế lớn. Trong lĩnh vực vật lý hạt nhân và năng lượng nguyên tử, các nhà khoa học của Viện Hàn lâm đang tham gia, phối hợp với Viện Liên hợp Nghiên cứu Hạt nhân Dubna, tham gia Dự án NICA - một trong những tổ hợp máy gia tốc nghiên cứu ion nặng hiện đại của thế giới; đồng thời phối hợp triển khai Phòng thí nghiệm chung Việt Nam - Dubna, gắn với đào tạo nhân lực và chuẩn bị năng lực nghiên cứu phục vụ định hướng phát triển điện hạt nhân. Theo ông, giá trị lớn nhất của sự tham gia này là việc các nhà khoa học Việt Nam trở thành một phần của cộng đồng khoa học quốc tế đang tạo ra tri thức và công nghệ của tương lai. Vì vậy, Việt Nam phải dám đầu tư và đầu tư đủ mức để cử cán bộ, nhất là các nhà khoa học trẻ, đến học tập, nghiên cứu và làm việc tại những phòng thí nghiệm, trung tâm khoa học hàng đầu thế giới. Đây không chỉ là kinh phí đào tạo, mà là đầu tư cho năng lực tự chủ khoa học và công nghệ lâu dài của quốc gia.

Cùng với việc đưa cán bộ Việt Nam ra thế giới, cần đưa các nhà khoa học Việt Nam tham gia và từng bước đảm nhiệm vị trí trong các tổ chức khoa học quốc tế. Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái nêu rõ, Viện Hàn lâm có điều kiện kết nối trực tiếp với các viện hàn lâm khoa học và công nghệ, các hiệp hội viện hàn lâm thế giới và châu Á, các tổ chức khoa học và đối tác nghiên cứu hàng đầu. Những tổ chức này không chỉ là những nơi hợp tác nghiên cứu, mà còn là nơi hình thành các chương trình dài hạn, sáng kiến khoa học quốc tế, tiêu chuẩn chuyên môn và những tư duy chiến lược có ảnh hưởng đến sự phát triển khoa học, công nghệ của khu vực và thế giới. Do đó, Việt Nam cần chủ động phát hiện, bồi dưỡng, giới thiệu, đề cử và hỗ trợ các nhà khoa học Việt Nam tham gia các tổ chức, hiệp hội, hội đồng khoa học, ban chuyên môn và chương trình nghiên cứu quốc tế, từng bước đảm nhiệm những vị trí có vai trò, trách nhiệm và ảnh hưởng. Mục tiêu không chỉ là có đại diện Việt Nam tham dự, mà phải có người Việt Nam tham gia xây dựng chương trình nghị sự, xác định hướng nghiên cứu, đề xuất sáng kiến, xây dựng tiêu chuẩn và đóng góp vào quá trình phân bổ các nguồn lực khoa học quốc tế.

Ở chiều ngược lại, Việt Nam cần đưa các nhà khoa học, chuyên gia và nguồn lực quốc tế đến cùng làm khoa học. Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái cho rằng, Việt Nam không chỉ cần đưa cán bộ ra nước ngoài học tập, mà còn phải tạo điều kiện để các nhà khoa học quốc tế đến Việt Nam làm việc, đào tạo nhân lực và cùng giải quyết những bài toán khoa học, công nghệ cụ thể của đất nước. Mục tiêu không phải chỉ là mời chuyên gia đến dự hội nghị hoặc làm việc ngắn hạn, mà là tạo điều kiện để họ tham gia xây dựng nhóm nghiên cứu, đào tạo cán bộ, triển khai nhiệm vụ và hình thành sản phẩm khoa học, công nghệ cụ thể tại Việt Nam. Muốn vậy, Việt Nam phải có cơ chế tài chính, điều kiện nghiên cứu và môi trường làm việc đủ hấp dẫn, dám dành nguồn lực để mời chuyên gia giỏi, bảo đảm phòng thí nghiệm, đội ngũ cộng tác và thủ tục thuận lợi.

Thông qua mạng lưới các tổ chức khoa học trên thế giới, Việt Nam cần chủ động đăng cai, tổ chức và chủ trì các hội nghị, diễn đàn, trường khoa học và hội thảo chuyên đề quốc tế có uy tín. Đây là khoản đầu tư để thu hút các nhà khoa học hàng đầu, tri thức mới, công nghệ mới và các mạng lưới nghiên cứu quốc tế đến Việt Nam. Các sự kiện cần được tổ chức chuyên sâu, gắn với những lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh hoặc nhu cầu chiến lược, hướng tới hình thành các chương trình nghiên cứu chung, nhóm hợp tác và sáng kiến khoa học lâu dài.

Theo Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Thái, bốn hướng hành động trên có thể khái quát thành một tư duy thống nhất: Đưa cán bộ Việt Nam ra thế giới để tiếp cận nơi tri thức được tạo ra; đưa các nhà khoa học Việt Nam tham gia các tổ chức khoa học quốc tế để có tiếng nói và vị trí; đưa chuyên gia quốc tế đến Việt Nam cùng nghiên cứu; đưa các hoạt động khoa học quốc tế lớn về Việt Nam để hình thành những mạng lưới hợp tác lâu dài.

Để thực hiện những nhiệm vụ này, ngoại giao khoa học phải trở thành sự phối hợp hành động giữa cơ quan ngoại giao, cơ quan quản lý khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cộng đồng các nhà khoa học Việt Nam ở nước ngoài. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần được phát huy như những đầu mối tìm kiếm “đúng chuyên gia, đúng phòng thí nghiệm, đúng tổ chức và đúng nguồn lực quốc tế”; đồng thời cần được cung cấp thường xuyên thông tin về những chương trình, nhiệm vụ, bài toán và nhu cầu công nghệ trọng điểm của Việt Nam để việc kết nối thực sự đúng và trúng.

* Đưa mạng lưới khoa học quốc tế thành nguồn lực phát triển

Để những mạng lưới khoa học quốc tế thực sự trở thành nguồn lực cho phát triển, bên cạnh việc mở rộng hợp tác với các tổ chức, viện nghiên cứu và chuyên gia nước ngoài, một nguồn lực đặc biệt cần được kết nối và phát huy là đội ngũ trí thức, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài. Đây cũng là một nội dung đang được ngành Ngoại giao thúc đẩy trong thời gian qua.

Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với hơn 6,5 triệu người tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ không ngừng lớn mạnh, phát triển, có cuộc sống ngày càng ổn định. Tỉ lệ chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày càng tăng, độ tuổi ngày càng trẻ; một số người đã nắm giữ vị trí quan trọng trong hệ thống chính trị nước sở tại.

Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung. 
Ảnh: Dương Giang-TTXVN

Theo Bộ trưởng Ngoại giao Lê Hoài Trung, thời gian qua, công tác ngoại giao đã góp phần tạo lập khuôn khổ và làm sâu sắc hơn hợp tác khoa học công nghệ với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược hàng đầu về khoa học công nghệ như Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản, Hàn Quốc... mở rộng không gian hợp tác về nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và công nghệ tương lai. Công tác kết nối với các tập đoàn công nghệ, viện nghiên cứu, trường Đại học và các nhà đầu tư quốc tế với Việt Nam được đẩy mạnh, mở ra nhiều cơ hội hợp tác nghiên cứu, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đã chủ động hơn trong việc hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học tìm kiếm đối tác, mở rộng mạng lưới hợp tác và tham gia vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu. Trong đó có kết nối thành công các địa phương, doanh nghiệp, viện, trường trong nước với các đối tác quốc tế; hình thành nhiều hợp tác cụ thể trong các lĩnh vực AI, bán dẫn, trung tâm dữ liệu, công nghệ cao... Các cơ quan  đại diện cũng thúc đẩy, kết nối nguồn lực tri thức, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng đi vào chiều sâu, từng bước hình thành mạng lưới tri thức đóng góp trực tiếp cho sự phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của đất nước.

Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã xây dựng cơ sở dữ liệu với khoảng 5.000 chuyên gia, tri thức, doanh nhân kiều bào. Bộ Ngoại giao và các cơ quan đại diện cũng đã kết nối, tiếp nhận đề xuất từ hơn 200 chuyên gia, nhóm chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài trong các lĩnh vực như công nghệ lượng tử, bán dẫn, vi sinh... Mạng lưới tri thức người Việt Nam ở nước ngoài đang từng bước được hình thành. Tuy nhiên, để nguồn lực này được phát huy tương xứng với tiềm năng, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và tạo môi trường thuận lợi để kiều bào tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển đất nước.

Nhằm tăng cường hơn nữa các chính sách, điều kiện thuận lợi cho các trí thức, chuyên gia kiều bào đóng góp cho nước nhà, ngày 2/8/2026, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, xác định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc.

Trước chỉ đạo cụ thể của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 23-NQ/TW về phát huy nguồn lực chiến lược của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ sinh học và hệ sinh thái khởi nghiệp, việc sớm cụ thể hóa Nghị quyết có ý nghĩa quan trọng. Nghị quyết xác định rõ phương thức huy động nguồn lực, xây dựng chính sách ưu đãi để thu hút kiều bào về nước, đồng thời tạo cơ chế để người Việt Nam ở nước ngoài yên tâm phát huy tri thức, kinh nghiệm, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Điều này càng có ý nghĩa trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới, khi khoa học, công nghệ được xác định là động lực và giữ vai trò trung tâm trong thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững.

Bên cạnh Nghị quyết 23, Thủ tướng Chính phủ cũng ký Quyết định số 530/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình thu hút chuyên gia, nhà khoa học là người nước ngoài và người Việt Nam ở nước ngoài về giảng dạy, nghiên cứu và làm việc tại các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp của Việt Nam.

Chương trình đặt mục tiêu đến năm 2035, Việt Nam thu hút ít nhất 30 chuyên gia, nhà khoa học xuất sắc có khả năng dẫn dắt, chủ trì các nhiệm vụ trọng điểm, nhất là trong các công nghệ then chốt, chiến lược; 500 chuyên gia, nhà khoa học làm việc toàn thời gian, đảm nhiệm các vị trí như trưởng nhóm nghiên cứu, trưởng phòng thí nghiệm, giám đốc chương trình đào tạo; 1.500 chuyên gia, nhà khoa học tham gia giảng dạy, nghiên cứu, hợp tác thường xuyên hoặc từ xa.

Với thể chế, chính sách cụ thể, rõ ràng đối với chuyên gia trí thức kiều bào, chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài, ngày càng nhiều kênh thu hút tri thức, công nghệ và nguồn lực toàn cầu đến và gắn kết với nhu cầu phát triển của Việt Nam. Khi các nhà khoa học Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào các mạng lưới quốc tế, Việt Nam trở thành nơi các chuyên gia trong và ngoài nước cùng nghiên cứu, hợp tác, tạo ra sản phẩm khoa học, mạng lưới kết nối chuyên gia sẽ trở thành một nguồn lực quan trọng để nâng cao năng lực khoa học, công nghệ và sức cạnh tranh của đất nước trong kỷ nguyên mới./.


Thu Phương

Tin liên quan

Xem thêm