Việc nghiên cứu về văn hóa người Mường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần làm giàu sự đa dạng trong nền văn hóa thống nhất của quốc gia.
Nhận diện giá trị truyền thống đặc sắc cũng như sức sống của văn hóa người Mường trong xã hội đương đại, tạo động lực thúc đẩy nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Mường nói riêng và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, hướng tới mục tiêu phát triển văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước... Đó là những nội dung chính của tọa đàm khoa học “Bản sắc văn hóa người Mường: Giá trị truyền thống và sức sống đương đại”, diễn ra sáng 6/8, tại Hà Nội.
Tọa đàm do Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Công ty Trách nhiệm hữu hạn Dịch vụ Du lịch Tam Chúc tổ chức, có sự tham dự của các nhà khoa học, đại diện cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, đại diện cộng đồng người Mường ở địa phương.
Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Đặng Thị Thu Hương, Phó hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, tọa đàm được tổ chức trong bối cảnh Đảng và Nhà nước đang dành sự quan tâm đặc biệt đối với sự nghiệp phát triển văn hóa, xác định văn hóa vừa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng cho phát triển nhanh, bền vững. Đặc biệt, việc Chính phủ ban hành Nghị định số 269/2026/NĐ- CP ngày 01/7/2026 quy định một số cơ chế, chính sách bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số đã tạo ra dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế về văn hóa.
Lần đầu tiên, Việt Nam có một văn bản quy phạm pháp luật quy định tương đối toàn diện về cơ chế, chính sách dành riêng cho lĩnh vực bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số, thể hiện rõ quan điểm chuyển từ tư duy “bảo tồn để lưu giữ” sang “bảo tồn để phát triển”, lấy cộng đồng làm chủ thể của di sản và coi văn hóa là nguồn lực phục vụ phát triển bền vững, phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo.
Trong dòng chảy chung đó, việc nghiên cứu về văn hóa người Mường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Là một trong những cộng đồng cư dân có lịch sử lâu đời ở Việt Nam, người Mường lưu giữ kho tàng di sản văn hóa đặc sắc với hệ thống ngôn ngữ, Mo Mường, cồng chiêng, tri thức bản địa, kiến trúc nhà sàn, các nghi lễ vòng đời, thiết chế cộng đồng cùng nhiều loại hình văn hóa dân gian có giá trị. Đây không chỉ là những thành tố tạo nên bản sắc của cộng đồng người Mường, mà còn góp phần làm giàu sự đa dạng trong nền văn hóa thống nhất của quốc gia.
Tuy nhiên, dưới tác động của công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển đổi số và quá trình hội nhập quốc tế, nhiều không gian văn hóa truyền thống đang dần thu hẹp, một số thực hành văn hóa có nguy cơ mai một, trong khi yêu cầu đưa di sản trở thành nguồn lực phát triển ngày càng trở nên cấp thiết. Điều đó đặt ra yêu cầu tiếp tục nghiên cứu, bảo tồn và phát huy di sản như một nguồn lực phục vụ phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa, kinh tế sáng tạo và phát triển bền vững…
Các ý kiến, tham luận tại tọa đàm tập trung khẳng định những giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa tín ngưỡng người Mường; các giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa người Mường trong bối cảnh đương đại, trong đó nhấn mạnh vai trò của cộng đồng, ứng dụng chuyển đổi số, phát triển du lịch văn hóa, công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo; khẳng định bản sắc văn hóa người Mường không chỉ là di sản cần được gìn giữ, mà còn là nguồn lực quan trọng cho phát triển bền vững của cộng đồng và địa phương…
Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Trường Giang, Trưởng Khoa Nhân học và Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, bản sắc văn hóa người Mường là một chỉnh thể sống, được hình thành từ lịch sử cư trú lâu dài, môi trường sinh thái thung lũng, nông nghiệp ruộng nước, thiết chế xã hội, tiếng Mường, Mo Mường, chiêng Mường, nhà sàn, trang phục, ẩm thực, tri thức bản địa, nghi lễ vòng đời và ký ức cộng đồng. Những thành tố ấy không tồn tại rời rạc, mà liên kết với nhau thành một hệ sinh thái văn hóa. Chính trong hệ sinh thái ấy, người Mường nhận diện mình, tổ chức đời sống, lý giải thế giới, duy trì quan hệ cộng đồng và truyền lại giá trị cho thế hệ sau. Sức sống đương đại của văn hóa Mường không phải là việc giữ nguyên mọi hình thức cũ, mà là khả năng cộng đồng Mường tiếp tục thực hành, truyền dạy, điều chỉnh và tái tạo các giá trị cốt lõi trong điều kiện mới…
Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Duy Thiệu, Nguyên Phó Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Mo Mường là một di sản văn hóa phi vật thể độc đáo của người Mường, bao gồm ba đặc trưng cốt lõi: lời mo, môi trường diễn xướng và con người thực hành diễn xướng (nghệ nhân/thầy mo) đã được ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Di sản này cũng đã được hoàn thiện hồ sơ và trình UNESCO để ghi danh vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Tuy vậy vẫn cần có những nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu để nhận diện đầy đủ các giá trị to lớn của di sản này…
Các nhà nghiên cứu, quản lý văn hóa kỳ vọng, tọa đàm góp phần bổ sung cơ sở khoa học cho việc thực thi Nghị định số 269/2026/NĐ-CP, đồng thời tạo động lực thúc đẩy nghiên cứu, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của người Mường nói riêng và các dân tộc thiểu số ở Việt Nam nói chung, hướng tới mục tiêu phát triển văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước./.

