Hai bên nhận thấy có nhiều điểm tương đồng trong quan điểm lấy người dân làm trung tâm, coi hoàn thiện pháp luật và phát triển các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng là giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp.
Theo thông tin từ Bộ Tư pháp, thực hiện kế hoạch đối ngoại năm 2026, tiếp nối chương trình làm việc tại Thụy Điển, từ ngày 25 đến ngày 27/6/2026, Đoàn công tác của Bộ Tư pháp Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc làm Trưởng đoàn đã có chuyến thăm và làm việc tại Cộng hòa Bulgaria nhằm nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về hòa giải, các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp. Tham gia Đoàn công tác có đại diện Văn phòng Chính phủ, một số đơn vị thuộc Bộ Tư pháp và Đại sứ Việt Nam tại Bulgaria Nguyễn Thị Minh Nguyệt.
Đoàn công tác đã làm việc với Bộ Tư pháp Bulgaria do bà Irena Borisova, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Bulgaria chủ trì. Đại diện Bộ Tư pháp Bulgaria trao đổi kinh nghiệm về cải cách pháp luật và tư pháp, phát triển các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế, đào tạo nguồn nhân lực tư pháp và xây dựng nền tư pháp điện tử. Đặc biệt, hai bên tập trung thảo luận về cơ chế phát triển hòa giải gắn với hệ thống tư pháp, ứng dụng công nghệ trong cung cấp dịch vụ tư pháp và các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.
Tại buổi làm việc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc đã chia sẻ những kết quả nổi bật của Việt Nam trong xây dựng Nhà nước pháp quyền, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách tư pháp và chuyển đổi số; đồng thời giới thiệu hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật và hòa giải ở cơ sở với vai trò giải quyết mâu thuẫn ngay từ cộng đồng, góp phần giảm tải cho hệ thống tư pháp và nâng cao khả năng tiếp cận pháp luật của người dân.
Qua trao đổi, hai bên nhận thấy có nhiều điểm tương đồng trong quan điểm lấy người dân làm trung tâm, coi hoàn thiện pháp luật và phát triển các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tố tụng là giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp. Những điểm tương đồng này tạo nền tảng thuận lợi để hai Bộ tiếp tục mở rộng hợp tác, tăng cường trao đổi kinh nghiệm và sớm hoàn tất việc ký kết Chương trình hợp tác trong giai đoạn tới, góp phần cụ thể hóa quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước.
Tại buổi làm việc với Trung tâm Hòa giải thuộc Tòa án khu vực Sofia, Ông Aleksandar Angelov – Chủ tịch Trung tâm và các cộng sự đã giới thiệu mô hình hòa giải gắn với Tòa án được triển khai tại Bulgaria từ năm 2009.
Một trong những nội dung được Đoàn công tác đặc biệt quan tâm là việc triển khai hòa giải trực tuyến tại Trung tâm Hòa giải thuộc Tòa án khu vực Sofia. Đại diện Trung tâm cho biết, sau đại dịch COVID-19, hòa giải trực tuyến được áp dụng ngày càng nhiều, nhất là đối với các vụ việc mà các bên ở những địa phương hoặc quốc gia khác nhau. Hiện Bulgaria chưa có nền tảng trực tuyến chuyên biệt dành riêng cho hoạt động hòa giải. Các hòa giải viên chủ yếu sử dụng các ứng dụng phổ biến như Zoom hoặc Viber và thiết lập thư điện tử chung để trao đổi với các bên. Tuy nhiên, việc sử dụng các nền tảng này vẫn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến tính bảo mật, nhất là đối với các tranh chấp liên quan đến bí mật kinh doanh, thương mại. Vì vậy, cuộc gặp thông tin ban đầu thường được tổ chức trực tiếp để các bên ký thỏa thuận tham gia hòa giải và cam kết bảo mật thông tin. Đại diện Trung tâm cũng cho biết, Bộ Tư pháp đang nghiên cứu xây dựng một nền tảng hòa giải trực tuyến chuyên biệt nhằm tăng cường tính bảo mật và hiệu quả của hoạt động hòa giải. Mặc dù vấn đề bảo mật thông tin vẫn là một thách thức, song đây không phải là rào cản đối với việc phát triển và mở rộng hòa giải trực tuyến.
Qua trao đổi, Đoàn công tác Bộ Tư pháp Việt Nam đánh giá cao kinh nghiệm của Bulgaria trong việc kết hợp ứng dụng công nghệ với các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin, đặc biệt là cơ chế yêu cầu các bên ký cam kết bảo mật trước khi tiến hành hòa giải trực tuyến. Đây là những kinh nghiệm thực tiễn có giá trị để Việt Nam tham khảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về hòa giải, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong lĩnh vực tư pháp.
Đoàn công tác đã có buổi làm việc với Hiệp hội Hòa giải viên quốc gia Bulgaria (NAM) về vai trò của tổ chức xã hội nghề nghiệp trong phát triển hoạt động hòa giải. Bà Milena Guncheva – Chủ tịch Hiệp hội đã giới thiệu về vai trò của tổ chức trong việc tập hợp đội ngũ hòa giải viên, đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, thúc đẩy phát triển văn hóa hòa giải và tham gia góp ý hoàn thiện chính sách, pháp luật về hòa giải. Theo bà Milena Guncheva, để trở thành hòa giải viên, ứng viên phải hoàn thành chương trình đào tạo theo quy định và vượt qua kỳ kiểm tra để được cấp chứng chỉ. Hiệp hội duy trì sự phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp Bulgaria trong việc xây dựng, giám sát, đánh giá đạo đức nghề nghiệp và bảo đảm chất lượng các chương trình đào tạo hòa giải viên theo các tiêu chuẩn nghề nghiệp, đồng thời tiệm cận các chuẩn mực của Viện Hòa giải Quốc tế. Đặc biệt, Hiệp hội đã đề xuất đưa nội dung về hòa giải và kỹ năng giải quyết xung đột vào chương trình giáo dục phổ thông nhằm hình thành văn hóa đối thoại, hạn chế hành vi bạo lực học đường. Đoàn công tác đánh giá đây là kinh nghiệm có giá trị để Việt Nam nghiên cứu, tham khảo trong quá trình hoàn thiện và tổ chức thi hành pháp luật về hòa giải.
Hai bên cũng trao đổi về khả năng tăng cường hợp tác trong thời gian tới. Hiệp hội Hòa giải viên quốc gia Bulgaria bày tỏ mong muốn thông qua Đại sứ quán Việt Nam tại Bulgaria để kết nối, tiến tới ký kết chương trình hợp tác với một tổ chức tương ứng của Việt Nam, đồng thời tăng cường trao đổi đoàn, mời tham dự các hội thảo, tọa đàm chuyên môn nhằm chia sẻ kinh nghiệm và thúc đẩy phát triển hoạt động hòa giải ở mỗi nước.
Tiếp nối chương trình, Đoàn công tác đã tới thăm và làm việc với Viện Hòa giải và Trọng tài quốc gia (NICA). Tiếp Đoàn có ông Vladimir Boyadjiev, Giám đốc NICA cùng các cộng sự. Tại buổi làm việc, đại diện Viện cho biết đây là cơ quan công lập trực thuộc Bộ Lao động và Chính sách xã hội Bulgaria, được thành lập và hoạt động theo đạo luật chuyên ngành với chức năng giải quyết các tranh chấp lao động tập thể thông qua hòa giải và trọng tài. Cơ quan này đóng vai trò là cầu nối trong hệ thống đối thoại xã hội tại Bulgaria. Mục tiêu là giúp các bên (người lao động và người sử dụng lao động) có được tiếng nói chung thực chất, hiệu quả, từ đó giữ gìn sự ổn định xã hội. Cách tiếp cận này thể hiện rõ tinh thần đối thoại xã hội, tôn trọng sự tham gia của các bên và đề cao giải pháp đồng thuận trước khi mâu thuẫn phát triển thành xung đột phức tạp.
Đoàn công tác cũng đã làm việc với Phòng Thương mại và Công nghiệp Bulgaria (BCCI). Ông Tsvetan Simeonov – Chủ tịch BCCI đã giới thiệu mô hình kết hợp giữa hòa giải và trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại, trong đó các bên được khuyến khích lựa chọn hòa giải trước khi chuyển vụ việc sang trọng tài nhằm tiết kiệm thời gian, chi phí và duy trì quan hệ hợp tác kinh doanh. Với mạng lưới hơn 50.000 doanh nghiệp thành viên, BCCI đóng vai trò kết nối doanh nghiệp với các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh ổn định và minh bạch.
Hai bên đã trao đổi về cơ chế phối hợp giữa hòa giải và trọng tài, phạm vi giải quyết tranh chấp thương mại, hiệu lực của kết quả hòa giải thành và kinh nghiệm phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án. Phía BCCI cũng bày tỏ mong muốn thiết lập quan hệ hợp tác với các tổ chức hòa giải, trọng tài của Việt Nam thông qua trao đổi chuyên gia và tham gia các diễn đàn, hội thảo quốc tế.
Qua các buổi làm việc, Đoàn công tác nhận thấy mặc dù mô hình hòa giải của Bulgaria mang tính chuyên nghiệp, chủ yếu giải quyết các tranh chấp dân sự, thương mại và lao động, trong khi hòa giải ở cơ sở của Việt Nam là thiết chế tự quản cộng đồng do những người có uy tín thực hiện, song hai nước có nhiều điểm tương đồng về quan điểm phát triển hòa giải, đều đề cao sự tự nguyện, đối thoại, thỏa thuận của các bên và coi hòa giải là giải pháp hiệu quả để hạn chế tranh chấp, giảm tải cho hệ thống tư pháp. Đây là những kinh nghiệm quan trọng phục vụ quá trình nghiên cứu sửa đổi Luật Hòa giải ở cơ sở và hoàn thiện chính sách về hòa giải tại Việt Nam.



