Từ đưa sản phẩm làng nghề lên sàn thương mại điện tử đến xây dựng chuỗi liên kết nông sản, hàng Việt đang có thêm những cách thức mới để tiếp cận thị trường.
Từ đưa sản phẩm làng nghề lên sàn thương mại điện tử đến xây dựng chuỗi liên kết nông sản, hàng Việt đang có thêm những cách thức mới để tiếp cận thị trường. Đổi mới, liên kết và số hóa đang trở thành động lực giúp sản phẩm nâng giá trị, mở rộng đầu ra và vươn xa hơn.
*Đưa tinh hoa gỗ Đồng Kỵ lên sàn thương mại điện tử
Làng nghề gỗ Đồng Kỵ (phường Đồng Nguyên, tỉnh Bắc Ninh) từ lâu vốn nổi tiếng với những sản phẩm chạm khắc tinh xảo, mang đậm dấu ấn văn hóa Kinh Bắc. Trải qua nhiều thế hệ, nghề gỗ không chỉ là kế sinh nhai mà còn trở thành niềm tự hào của người dân nơi đây. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, những người làm gỗ Đồng Kỵ mạnh dạn thay đổi trước yêu cầu đổi mới để tìm hướng đi phát triển bền vững, phù hợp với xu thế thị trường.
Làng nghề gỗ Đồng Kỵ đã tồn tại và phát triển hàng trăm năm, phát triển thịnh hành từ đầu những năm 2000 đến những năm 2015. Lúc này, trong làng nghề có hàng nghìn hộ dân tham gia sản xuất, kinh doanh gỗ mỹ nghệ; nhiều doanh nghiệp tư nhân ra đời, mở rộng quy mô nhà xưởng. Sản phẩm không chỉ tiêu thụ rộng rãi trong nước mà còn xuất khẩu sang các thị trường khó tính như châu Á, châu Âu. Nghề gỗ chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế địa phương, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống người dân.
Tuy nhiên, những năm gần đây, làng nghề đối mặt với không ít khó khăn. Thị trường xuất khẩu truyền thống có dấu hiệu chững lại; sức mua trong nước giảm do biến động kinh tế và thay đổi thị hiếu tiêu dùng. Nhiều khách hàng chuyển sang lựa chọn các sản phẩm nội thất hiện đại, thiết kế tối giản, giá thành hợp lý hơn. Trong khi đó, không ít cơ sở sản xuất tại Đồng Kỵ vẫn chủ yếu tập trung vào dòng sản phẩm cổ điển, kích thước lớn, giá trị cao, kén khách hàng.
Ông Phạm Hoàng Hạnh, Phó Chủ tịch UBND phường Đồng Nguyên cho biết, trước thực trạng trên, chính quyền địa phương cùng các doanh nghiệp, hộ sản xuất đã chủ động triển khai nhiều giải pháp nhằm khơi dậy tiềm năng và giữ gìn tinh hoa nghề truyền thống. Một trong những hướng đi được xác định là đa dạng hóa sản phẩm. Nhiều cơ sở đã nghiên cứu, thiết kế các dòng nội thất phù hợp với không gian sống hiện đại như bàn ghế phòng khách, bàn ăn, kệ trang trí, đồ gỗ kết hợp vật liệu mới. Việc điều chỉnh mẫu mã theo hướng tinh gọn, tiện dụng giúp sản phẩm tiếp cận được nhóm khách hàng trẻ và phân khúc trung cấp.
Song song với đổi mới thiết kế, các cơ sở sản xuất từng bước ứng dụng máy móc, công nghệ vào quy trình gia công. Hệ thống máy cắt, phần mềm thiết kế hỗ trợ được đưa vào sử dụng nhằm nâng cao độ chính xác, rút ngắn thời gian sản xuất và giảm chi phí. Sự kết hợp giữa công nghệ hiện đại và bàn tay khéo léo của người thợ được xem là giải pháp hài hòa, vừa giữ được giá trị thủ công truyền thống, vừa đáp ứng yêu cầu cạnh tranh của thị trường.
Đến nay, làng nghề gỗ Đồng Kỵ có 3.500 hộ làm nghề (chiếm trên 79% tổng số hộ trong thôn) với hơn 10.500 lao động trực tiếp tham gia sản xuất, kinh doanh đồ gỗ. Hằng năm làng nghề mang lại doanh thu lớn, đóng góp vào phát triển kinh tế của địa phương; đồng thời tạo việc làm, thu nhập ổn định cho người dân.
Một điểm nhấn trong quá trình chuyển mình của Đồng Kỵ là đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng thương mại điện tử. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào khách hàng đến đặt hàng trực tiếp hoặc qua trung gian, nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh đã xây dựng website, fanpage, giới thiệu sản phẩm trên các sàn thương mại điện tử. Hoạt động quảng bá, tiếp thị trực tuyến giúp mở rộng phạm vi tiếp cận khách hàng trên toàn quốc, chinh phục thị trường quốc tế.
Để nâng cao sức cạnh tranh, địa phương khuyến khích tăng cường liên kết giữa các cơ sở sản xuất thông qua các tổ hợp tác, hiệp hội nghề nghiệp. Việc chia sẻ thông tin thị trường, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, tham gia hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước được đẩy mạnh nhằm tìm kiếm đối tác, mở rộng đầu ra cho sản phẩm. Đồng thời, việc quy hoạch khu sản xuất tập trung, cải thiện hạ tầng giao thông, xử lý môi trường làng nghề cũng được địa phương chú trọng.
Phường Đồng Nguyên khuyến khích các nghệ nhân cao tuổi tích cực truyền dạy kỹ thuật chạm khắc cho thế hệ trẻ; lồng ghép hoạt động bảo tồn, quảng bá làng nghề trong các hoạt động văn hóa. Địa phương cũng đẩy mạnh kết hợp sản xuất với phát triển du lịch làng nghề, qua đó, góp phần quảng bá hình ảnh tinh hoa gỗ Đồng Kỵ tới du khách trong và ngoài nước, Phó Chủ tịch UBND phường Đồng Nguyên Phạm Hoàng Hạnh chia sẻ.
*Liên kết chuỗi, nâng tầm giá trị nông sản
Ngành nông nghiệp tại Tây Ninh đẩy mạnh xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản, giúp nông dân từng bước thay đổi phương thức canh tác, nâng cao chất lượng sản phẩm và ổn định đầu ra.
Thông qua các hợp tác xã, tổ hợp tác và doanh nghiệp, nhiều vùng sản xuất tập trung được hình thành, gắn với hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Nông dân được hỗ trợ từ khâu cung ứng giống, vật tư nông nghiệp, chuyển giao kỹ thuật canh tác đến thu mua và tiêu thụ sản phẩm. Nhờ đó, sản xuất nông nghiệp từng bước chuyển từ nhỏ lẻ sang quy mô hàng hóa, hạn chế rủi ro do biến động giá cả thị trường.
Các mô hình liên kết trong sản xuất những cây trồng chủ lực của tỉnh như mãng cầu, chuối, sắn hay mía đang mang lại hiệu quả rõ rệt. Khi tham gia chuỗi liên kết, nông dân không chỉ được bảo đảm đầu ra ổn định mà còn nâng cao giá trị sản phẩm thông qua áp dụng quy trình sản xuất an toàn và truy xuất nguồn gốc.
Theo Trung tâm Khuyến nông Tây Ninh, một trong những thế mạnh của tỉnh là có vùng trồng mãng cầu lớn của cả nước với diện tích hơn 5.000 ha, tập trung chủ yếu quanh khu vực núi Bà Đen và các vùng chuyên canh lân cận. Nhờ điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu đặc thù, trái mãng cầu nơi đây có vỏ mỏng, gai nở đều, cơm trắng dẻo, vị ngọt thanh xen lẫn chua nhẹ cùng hương thơm đặc trưng, tạo nên dấu ấn riêng trên thị trường.
Để phát huy lợi thế này, nhiều nông dân đã tham gia tổ hợp tác, hợp tác xã nhằm hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ. Ông Lê Minh Trung, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp Minh Trung cho biết, việc liên kết giúp nông dân sản xuất theo kế hoạch chung, bảo đảm sản lượng và chất lượng đồng đều cho thị trường. Hợp tác xã chủ động xây dựng kế hoạch rải vụ, tổ chức lịch thu hoạch hợp lý cho các thành viên, qua đó duy trì nguồn cung ổn định, hạn chế tình trạng dội chợ hoặc khan hàng cục bộ.
Theo ông Trung, khi tham gia chuỗi liên kết, nông dân còn được hỗ trợ kỹ thuật, định hướng sản xuất theo nhu cầu thị trường và thuận lợi hơn trong việc ký kết hợp đồng tiêu thụ với doanh nghiệp, thương lái lớn. Nhờ đó, giá trị sản phẩm được nâng lên, thu nhập của người trồng cũng ổn định hơn.
Cùng với việc tổ chức lại sản xuất, nhiều vùng trồng mãng cầu Tây Ninh đã từng bước áp dụng các quy trình canh tác an toàn theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP và xây dựng mã số vùng trồng để đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường. Sản phẩm hiện được công nhận OCOP và gắn với chỉ dẫn địa lý, trở thành “tấm hộ chiếu” giúp đặc sản địa phương mở rộng thị trường trong nước và hướng tới xuất khẩu.
Song song đó, các mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản trong các ngành hàng như lúa, chanh chất lượng cao, thịt bò, dưa lưới… cũng đang được mở rộng và phát huy hiệu quả. Thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác và sự tham gia của doanh nghiệp, nông dân được hỗ trợ giống, kỹ thuật, quy trình sản xuất cũng như ký kết hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Nhờ đó, sản xuất dần đi vào quy củ, giảm tình trạng “được mùa mất giá”, đồng thời nâng cao giá trị nông sản và tạo nguồn thu ổn định cho người dân.
Để thúc đẩy các mô hình liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản phát triển hiệu quả, Tây Ninh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ. Mới đây, ngày 27/2/2026, UBND tỉnh ban hành quyết định triển khai thực hiện Nghị quyết số 32/2025/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Tây Ninh nhằm hỗ trợ phát triển các chuỗi liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản giai đoạn 2026–2030.
Theo đó, nhiều nội dung hỗ trợ được triển khai như tư vấn xây dựng liên kết; đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất; xây dựng mô hình khuyến nông; đào tạo nghề, tập huấn kỹ thuật; nâng cao năng lực quản lý hợp đồng, quản lý chuỗi và phát triển thị trường. Ngoài ra, các tổ chức, cá nhân tham gia liên kết còn được hỗ trợ giống, vật tư, bao bì, nhãn mác sản phẩm; chuyển giao và ứng dụng khoa học – kỹ thuật mới, áp dụng các quy trình quản lý chất lượng đồng bộ trong toàn chuỗi.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Tây Ninh Trương Tấn Đạt, giai đoạn 2026-2030 dự kiến tổng kinh phí thực hiện chính sách là trên 100 tỷ đồng nhằm hỗ trợ cho khoảng 89 dự án liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản được hỗ trợ, tập trung vào các ngành hàng như tôm, thanh long, sầu riêng, lúa chất lượng cao, dưa lưới, măng tre… cùng nhiều mô hình ứng dụng công nghệ cao gắn với chuỗi giá trị. Bên cạnh đó, các chính sách còn hỗ trợ ứng dụng cơ giới hóa, như sử dụng máy bay không người lái phun thuốc bảo vệ thực vật và các thiết bị phục vụ sản xuất.
Đặc biệt, thông qua các chương trình đào tạo kỹ thuật, chuyển giao khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu và chứng nhận tiêu chuẩn sản xuất an toàn đã giúp nông dân nâng cao năng lực sản xuất. Việc hỗ trợ kết nối thị trường, xúc tiến thương mại cũng góp phần mở rộng đầu ra cho nông sản địa phương.
Thực tế cho thấy, liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản không chỉ giúp nông dân ổn định thu nhập mà còn tạo nền tảng quan trọng để nông nghiệp Tây Ninh phát triển theo hướng hiện đại, bền vững, góp phần xây dựng nông thôn mới ngày càng khởi sắc.
Đổi mới sản xuất, mở rộng liên kết và ứng dụng công nghệ đang tạo thêm động lực để hàng Việt nâng cao giá trị, sức cạnh tranh. Từ làng nghề truyền thống đến vùng sản xuất nông nghiệp, khi bắt nhịp tốt hơn với thị trường, sản phẩm Việt sẽ có thêm cơ hội khẳng định vị thế và vươn xa./.



