Xã hội

Khơi thông nội lực, thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia

Nghệ An

Sự chuyển dịch từ tư duy hỗ trợ sang tư duy đầu tư phát triển và liên kết chuỗi giá trị là con đường hiệu quả để miền Tây Nghệ An vươn mình mạnh mẽ, tạo tiền đề vững chắc cho mục tiêu giảm nghèo đa chiều và bền vững.

Từ nguồn lực Chương trình Mục tiêu quốc gia, bà con xã Nga My được hỗ trợ con giống và kỹ thuật chăn nuôi bò sinh sản.
Ảnh: Bích Huệ - TTXVN

Không chỉ tập trung vào tiến độ giải ngân nguồn vốn, các xã miền núi tỉnh Nghệ An đã tạo nên bước đột phá thông qua việc phát huy tối đa nội lực trong nhân dân. Bằng cách chuyển hóa nguồn lực tài chính từ các Chương trình mục tiêu quốc gia thành những mô hình sản xuất thực tiễn, chính quyền nơi đây đã khơi dậy ý chí tự lực của đồng bào, tạo tiền đề vững chắc cho mục tiêu giảm nghèo đa chiều và bền vững.

*Đánh thức nội lực từ những mô hình đặc thù

Xã Nga My từng được biết đến là một trong những địa bàn khó khăn nhất của tỉnh Nghệ An. Với địa hình bị chia cắt, tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm đa số, đặc biệt là nơi cư trú duy nhất của đồng bào Ơ Đu tại bản Văng Môn, áp lực về giảm nghèo luôn là bài toán đau đáu của các cấp chính quyền. Vì vậy, việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 1719) được cụ thể hóa bằng những giải pháp cụ thể.

Dưới sự chỉ đạo sát sao của Đảng ủy xã, Hội Nông dân đã thành lập các Tổ hội nghề nghiệp chăn nuôi bò sinh sản. Điểm khác biệt ở đây là sự giám sát chặt chẽ từ phía chính quyền: con giống được tuyển chọn kỹ, bà con được tập huấn quy trình làm chuồng trại và tiêm phòng dịch bệnh trước khi bàn giao. Đến nay, đàn bò không chỉ phát triển về số lượng mà còn thay đổi tư duy chăn nuôi của người Ơ Đu - từ thả rông sang chăn nuôi có quản lý, kế hoạch.

Ông Lo Văn Hải, người dân bản Văng Môn, xã Nga My chia sẻ, nhờ được thụ hưởng nhiều chính sách, chương trình và dự án đầu tư của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền, đời sống đồng bào Ơ Đu ngày càng phát triển. Bà con chăm lo phát triển kinh tế, đoàn kết xây dựng bản làng, đồng thời chú trọng gìn giữ và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống.

Xác định sản xuất phải gắn liền với tiêu thụ, chính quyền xã Nga My đã khôi phục và phát triển Chợ phiên Nga My vào ngày 1 và 15 âm lịch hàng tháng. Đây không chỉ là nơi mua bán mà là "sàn giao dịch" nông sản đúng nghĩa cho bà con các bản Bay, Pủng... Những sản phẩm thổ cẩm, đồ đan lát hay măng rừng nay đã có chỗ đứng, giúp người dân có thu nhập, tạo động lực sản xuất.

Ông Lô Thanh Nhất, Bí thư Đảng ủy xã Nga My cho biết, từ các nguồn lực của chương trình mục tiêu quốc gia, địa phương từng bước xây dựng mô hình chăn nuôi, trồng trọt phù hợp điều kiện vùng cao như, phát triển chăn nuôi đại gia súc, trồng các loại cây bản địa có giá trị kinh tế. Người dân được tham gia tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn cách làm ăn bài bản, dần thay đổi phương thức sản xuất nhỏ lẻ, manh mún trước đây. Cùng với đó, xã quan tâm kết nối, giải quyết đầu ra cho sản phẩm, hướng tới hình thành sản xuất hàng hóa, tạo nguồn thu nhập ổn định, qua đó, từng bước thay đổi tư duy và cách tổ chức sản xuất của người dân.

Mô hình giảm nghèo bằng nghề đan bèo tây ở xã Yên Na đang là một sinh kế hiệu quả.
 Ảnh: Bích Huệ - TTXVN

Mô hình giảm nghèo bằng nghề đan bèo tây ở xã Yên Na đang phát huy hiệu quả nhờ phát huy nội lực (tay nghề truyền thống) kết hợp với hỗ trợ bên ngoài (kết nối doanh nghiệp, đào tạo), tạo sinh kế bền vững, giữ chân lao động trẻ, đặc biệt phù hợp với người cao tuổi làm tại nhà. Tranh thủ thời gian nông nhàn, người dân có thu nhập ổn định (3-5 triệu đồng/người/tháng) từ đan các sản phẩm xuất khẩu như, giỏ, thảm, bình hoa… Đến nay, người dân ở 16/16 bản của xã đều được đào tạo, biến nghề đan bèo tây thành sinh kế chủ lực, bền vững. Đây là minh chứng cho việc phát triển kinh tế xanh, tạo sinh kế tại chỗ, vừa nâng cao thu nhập vừa giữ gìn văn hóa bản địa, góp phần vào mục tiêu giảm nghèo bền vững của tỉnh Nghệ An.

Ông Thái Lương Thiện, Chủ tịch UBND xã Yên Na cho biết, nghề đan bèo tây không chỉ giải quyết vấn đề nghèo đói mà còn tạo ra hướng đi mới, bền vững, khai thác hiệu quả tiềm năng lao động và tài nguyên địa phương, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tại vùng miền núi như Yên Na.

*Từ “cho con cá” sang “trao cần câu”

Tại xã Quỳ Châu, việc đưa mô hình nuôi vịt bầu Quỳ vào chương trình giảm nghèo đã mang lại những kết quả rõ rệt, không chỉ về mặt kinh tế mà còn trong việc bảo tồn nguồn gen quý của địa phương.
 Ảnh: Bích Huệ - TTXVN

Tại xã Quỳ Châu, việc đưa mô hình nuôi vịt bầu Quỳ vào chương trình giảm nghèo đã mang lại những kết quả rõ rệt, không chỉ về mặt kinh tế mà còn trong việc bảo tồn nguồn gen quý của địa phương.

Vịt bầu Quỳ vốn là đặc sản "trứ danh" của vùng đất Phủ Quỳ với chất lượng thịt thơm, ngọt, chắc và không có mùi hôi như các giống vịt thông thường. Trước đây, bà con thường nuôi nhỏ lẻ, chăn thả tự do, dẫn đến tình trạng dịch bệnh và "chảy máu" giống quý do lai tạp. Thông qua các Chương trình mục tiêu quốc gia và nguồn vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội, người dân đã áp dụng khoa học kỹ thuật để thực hiện quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, tiêm phòng đầy đủ và vệ sinh chuồng trại thường xuyên. Thay vì phụ thuộc hoàn toàn vào cám công nghiệp, bà con kết hợp phụ phẩm nông nghiệp như chuối cây băm nhỏ, cám ngô, cám gạo... Cách nuôi này giúp giảm chi phí đầu vào mà vẫn giữ được hương vị thịt đặc trưng của vịt bản địa.

Trong đợt triển khai cuối năm 2025 tại một số bản của xã Quỳ Châu, từ nguồn vốn chương trình mục tiêu quốc gia, địa phương đã phối hợp cấp hơn 8.000 con giống cho 75 hộ nghèo và cận nghèo. Với tỷ lệ sống đạt trên 95%, mô hình này đang tạo ra luồng gió mới, giúp bà con vùng cao tự tin làm chủ kinh tế trên chính mảnh đất quê hương mình.

Mô hình trồng cây rễ hương bản địa cung cấp nguyên liệu cho người dân địa phương làm hương trầm truyền thống tại xã Quỳ Châu mang lại hiệu quả cao.
 Ảnh: Bích Huệ - TTXVN

Ông Nguyễn Văn Dũng, Chủ tịch UBND xã Quỳ Châu cho biết, hiện nay, vịt bầu Quỳ đã trở thành sản phẩm OCOP và là món ăn không thể thiếu tại các điểm du lịch cộng đồng, nhà hàng ở miền Tây Nghệ An. Cung không đủ cầu là minh chứng rõ nhất cho hiệu quả bền vững của mô hình này. Ngoài ra, xã vận động nhân dân trồng rừng nguyên liệu và thâm canh cây rễ hương. Với phương châm "lấy ngắn nuôi dài", cây rễ hương tạo nguồn thu ngắn hạn để người dân yên tâm đầu tư cho những cánh rừng keo, rừng lát dài hạn.

Làm thế nào để người dân không tái nghèo, việc này, đòi hỏi chính quyền phải thay đổi phương thức tiếp cận từ "cho con cá" sang "trao cần câu" và "hướng dẫn cách câu", ông Dũng nhấn mạnh.

Mô hình trồng cây rễ hương bản địa cung cấp nguyên liệu cho người dân địa phương làm hương trầm truyền thống tại xã Quỳ Châu mang lại hiệu quả cao.
 Ảnh: Bích Huệ - TTXVN

Thành công của các địa phương như Nga My, Yên Na và Quỳ Châu không phải ngẫu nhiên. Đó là kết quả của một quy trình quản lý chặt chẽ ở hai cấp như rà soát đúng đối tượng, phân bổ vốn công khai, minh bạch và là cầu nối với các doanh nghiệp thu mua. Từ đó, trực tiếp hướng dẫn kỹ thuật, giám sát sử dụng vốn thông qua các ban giám sát cộng đồng tại bản để tránh lãng phí.

Qua thực tế triển khai, nhiều địa phương cho rằng, mô hình hỗ trợ phải phù hợp với tập quán và khí hậu của từng vùng, không áp dụng máy móc mô hình miền xuôi cho vùng cao. Điều quan trọng nhất, giúp người dân hiểu nỗ lực cá nhân mới là yếu tố quyết định, Nhà nước chỉ hỗ trợ nguồn lực ban đầu. Cùng với đó, phát huy vai trò người có uy tín, sử dụng tiếng nói của già làng, trưởng bản để vận động bà con tham gia hợp tác sản xuất.

Hành trình thoát nghèo dù còn gian nan nhưng sự chuyển dịch từ tư duy hỗ trợ sang tư duy đầu tư phát triển và liên kết chuỗi giá trị là con đường hiệu quả để miền Tây Nghệ An vươn mình mạnh mẽ./.

 

Nguyễn Thị Bích Huệ

Xem thêm