Tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” trở thành cơ sở để từng bước tháo gỡ những rào cản của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, phát huy nguồn lực xã hội và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
Bốn thập niên Đổi mới đã tạo nên những chuyển biến sâu sắc trong tư duy lý luận, mô hình phát triển và vị thế của Việt Nam, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia. Đây là những nội dung trọng tâm được các nhà khoa học, nhà quản lý và chuyên gia trao đổi tại Hội thảo khoa học cấp quốc gia “40 năm đổi mới ở Việt Nam (1986-2026): Lý luận, thực tiễn và định hướng phát triển” do Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức ngày 16/10.
*Đổi mới tư duy phát triển qua các thời kỳ
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Văn Nhiêm, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12/1986, Đại hội VI của Đảng khởi xướng công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước, trước hết từ đổi mới tư duy kinh tế. Tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” trở thành cơ sở để từng bước tháo gỡ những rào cản của cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, phát huy nguồn lực xã hội và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại.
“Sau bốn thập niên, quá trình Đổi mới đã đem lại những thành tựu có ý nghĩa lịch sử, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường vị thế quốc tế của Việt Nam. Thực tiễn cũng cho thấy, đổi mới tư duy phải gắn với tổng kết kinh nghiệm, tôn trọng quy luật khách quan và điều chỉnh phương thức tổ chức thực hiện phù hợp với điều kiện đất nước”, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Văn Nhiêm nhấn mạnh.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, đây không chỉ là dịp nhìn lại chặng đường lịch sử mà còn nhận diện điểm nghẽn thể chế, khoảng cách giữa chủ trương và thực thi chính sách, đồng thời đề xuất giải pháp thích ứng với chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, hội nhập quốc tế sâu rộng.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Văn Nhiêm cho rằng, 40 năm là khoảng thời gian đủ dài để một đường lối phát triển được thực tiễn kiểm nghiệm, đồng thời tạo điều kiện để giới nghiên cứu đánh giá khách quan những giá trị đã được khẳng định và vấn đề còn đặt ra. “Nhiệm vụ hiện nay là đóng góp luận cứ để các định hướng phát triển được chuyển hóa thành thể chế, pháp luật và năng lực quản trị quốc gia hiệu quả đáp ứng các yêu cầu mới của thực tiễn”, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Văn Nhiêm chia sẻ.
Nhìn lại tiến trình hình thành đường lối Đổi mới kinh tế của Đảng giai đoạn tiền đề (1979-1986), Tiến sỹ Lê Hồ Sơn, Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế cho rằng, quá trình đổi mới tư duy kinh tế của Đảng trải qua ba bước đột phá mang tính lịch sử. Cụ thể, tháng 8/1979 với chủ trương “xóa bỏ rào cản để sản xuất bung ra” được coi trọng động lực lợi ích và quan hệ thị trường; tháng 6/1985 chuyển trọng tâm sang đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ bao cấp qua giá - lương - tiền; tháng 8/1986 định hình hệ thống quan điểm kinh tế tương đối đồng bộ về cơ cấu sản xuất, kinh tế nhiều thành phần và tự chủ kinh doanh.
“Ba bước đột phá từ năm 1979 đến năm 1986 chứng minh bài học tôn trọng thực tiễn khách quan và các quy luật kinh tế. Đổi mới là quá trình tích lũy, thử nghiệm từ thực tiễn để phát triển nhận thức lý luận, đòi hỏi chúng ta phải luôn dám nhìn nhận khuyết điểm và chủ động điều chỉnh”, Tiến sỹ Lê Hồ Sơn nhận định.
Tiếp nối góc nhìn lịch sử, dưới khía cạnh chuyển biến mô hình phát triển, Tiến sỹ Dương Thành Thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định tư duy phát triển của Việt Nam qua 40 năm Đổi mới đã có sự chuyển dịch sâu sắc từ mục tiêu tăng trưởng thuần túy sang phát triển bền vững. Sự chuyển biến này diễn ra qua 4 giai đoạn: Giải phóng sức sản xuất và khôi phục vĩ mô (1986-2000); tăng tốc công nghiệp hóa và mở rộng hội nhập (2001-2010); chuyển hướng sang bền vững và tăng trưởng xanh (2011-2020); thể chế hóa toàn diện các cam kết khí hậu và quản trị các-bon (2021-2026).
Theo Tiến sỹ Dương Thành Thông, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải lấp đầy các khoảng trống về năng lực thực thi và giải quyết tính phân mảnh chính sách giữa tăng trưởng công nghiệp với các giới hạn phát thải. Tăng trưởng kinh tế tạo ra nguồn lực nhưng chính tính bền vững mới quyết định khả năng duy trì và phân phối thành quả đó.
“Để bảo vệ thành quả phát triển trước các thách thức lớn như biến đổi khí hậu, hệ thống pháp luật giai đoạn tới cần hoàn thiện khung pháp lý tích hợp giữa xanh hóa và chuyển đổi số, đồng thời thể chế hóa nghiêm túc nguyên tắc chuyển đổi công bằng để bảo vệ sinh kế cho người dân”, Tiến sỹ Dương Thành Thông nhấn mạnh.
*Xây dựng thể chế tinh gọn, hành chính kiến tạo
Đánh giá về sự phát triển lý luận trong công cuộc xây dựng bộ máy nhà nước, Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh chỉ rõ sự chuyển biến quan trọng từ tư duy “xây dựng” sang “hoàn thiện” Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nếu như giai đoạn “xây dựng” tập trung hình thành và xác lập các yếu tố cấu thành bộ máy thì “hoàn thiện” là bước phát triển về chất, làm cho toàn bộ hệ thống vận hành đồng bộ, hiệu lực và lấy sự hài lòng cũng như mức độ bảo đảm quyền con người làm thước đo.
Tiến sỹ Nguyễn Thanh Hải phân tích, trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền vừa là đòi hỏi khách quan, vừa là cơ sở để giải phóng các nguồn lực. Một nền kinh tế muốn bứt phá không thể dựa trên hệ thống pháp luật thiếu đồng bộ, bộ máy cồng kềnh hay quản trị chồng chéo. Pháp luật minh bạch, ổn định chính là yếu tố giúp giảm chi phí thể chế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm tự do kinh doanh. Nhà nước pháp quyền không chỉ đóng vai trò quản lý mà phải trở thành chủ thể kiến tạo phát triển.
Cùng quan điểm về việc đổi mới phương thức quản trị quốc gia, Tiến sỹ Trần Hữu Thắng, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, trải qua 4 giai đoạn cải cách hành chính, từ phá bỏ bao cấp (1986-1995), chuẩn hóa quy trình (1996-2005), hành chính phục vụ (2006-2015) đến Chính phủ kiến tạo và quản trị số (2016-2026) tư duy quản lý hành chính tại Việt Nam đã có bước tiến dài.
Tiến sỹ Trần Hữu Thắng cũng chỉ ra 4 rào cản hệ thống đang cản trở bước chuyển từ tư duy kiến tạo sang năng lực kiến tạo thực chất: Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện; nền công vụ chưa thực sự chuyên nghiệp; sự can thiệp thị trường thiếu nhất quán và tính hình thức trong giải trình, phản hồi chính sách.
“Để nâng cao năng lực kiến tạo thực chất, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận các điểm nghẽn và cải cách mạnh mẽ khâu lập pháp, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm; đẩy mạnh chuyển đổi số, tinh gọn bộ máy và xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp chính là chìa khóa để chuyển hóa cam kết chính trị của Nhà nước thành năng lực phục vụ hiệu quả người dân và doanh nghiệp ngay từ cấp cơ sở”, Tiến sỹ Trần Hữu Thắng đề xuất.
Các đại biểu tham dự hội thảo thống nhất cho rằng, tổng kết 40 năm Đổi mới không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội quan trọng hơn là rút ra những bài học lý luận và thực tiễn giá trị. Việc tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng lập pháp và xây dựng bộ máy hành chính tinh gọn, hiệu lực sẽ tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam bứt phá mạnh mẽ, hiện thực hóa các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới./.
- Từ khóa:
- Hoàn thiện
- thể chế
- tạo nền tảng
- Việt Nam
- bứt phá


