Xã hội

65 năm thảm họa da cam: Những vết thương không thể lành

Hưng Yên

65 năm đã trôi qua, những cánh rừng bị hủy diệt năm nào đã dần hồi sinh, nhiều vùng đất từng là “vùng đất chết” đã khoác lên mình màu xanh của sự sống. Thế nhưng, với những người lính từng đi qua chiến tranh, hậu quả của chất độc da cam vẫn chưa chưa bao giờ là chuyện của quá khứ…

Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ nhưng chất độc da cam/dioxin do quân đội Mỹ rải trong cuộc chiến tranh với Việt Nam, vẫn âm thầm để lại di chứng cả thể xác lẫn tinh thần trong cuộc sống của hàng triệu người dân nước ta. Không chỉ những người lính từng đi qua chiến tranh, nhiều thế hệ con, cháu của họ vẫn đang mang trên mình một nỗi đau mang tên da cam. Hưng Yên là một trong những địa phương có số lượng nạn nhân chất độc da cam/dioxin lớn ở khu vực phía Bắc. Hàng nghìn nạn nhân vẫn đang từng ngày chống chọi với bệnh tật, dị tật, những di chứng nặng nề do chất độc hóa học để lại. Đau xót hơn, nỗi đau ấy không chỉ dừng lại ở một thế hệ mà còn kéo dài sang thế hệ con, cháu, khiến nhiều gia đình suốt nhiều thập kỷ phải sống trong cảnh bệnh tật và mặc cảm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống. Có những người mẹ dành trọn cuộc đời để chăm sóc đứa con không bao giờ lớn, có những mái nhà mang nỗi đau da cam từ thế hệ này sang thế hệ khác, như một vết thương chưa bao giờ thực sự khép lại.

Nhân dịp kỷ niệm 65 năm Thảm họa da cam ở Việt Nam (10/8/1961-10/8/2026), phóng viên Thông tấn xã Việt Nam thực hiện 2 bài viết: “Hành trình xoa dịu nỗi đau” nhằm khắc họa chân thực những số phận mang di chứng của chất độc da cam cũng như nghị lực của họ và sự chung sức, đồng hành của cộng đồng trong hành trình “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Bài 1 - Những vết thương không thể lành

Ngày 10/8/1961, quân đội Mỹ bắt đầu tiến hành chiến tranh hóa học ở Việt Nam bằng việc phun rải các chất diệt cỏ chứa dioxin. Trong suốt 10 năm sau đó (1961-1971), khoảng 80 triệu lít hóa chất độc hại đã được rải xuống miền Nam Việt Nam, gây nên một trong những thảm họa hóa học lớn nhất trong lịch sử nhân loại. 65 năm đã trôi qua, những cánh rừng bị hủy diệt năm nào đã dần hồi sinh, nhiều vùng đất từng là “vùng đất chết” đã khoác lên mình màu xanh của sự sống. Thế nhưng, với những người lính từng đi qua chiến tranh, hậu quả của chất độc da cam vẫn chưa chưa bao giờ là chuyện của quá khứ…

*Nhân chứng sống của tội ác

Người lính Trường Sơn Nguyễn Xuân Khoan (tổ dân phố Hùng Thắng, phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên) trở về sau chiến tranh, dù đã ở tuổi 75 vợ chồng ông không có niềm vui quây quần bên con cháu như bao người bốn người con của ông lần lượt ra đi vì bệnh tật khi còn rất trẻ. 
Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN

Ở tuổi 75, căn nhà nhỏ của vợ chồng ông Nguyễn Xuân Khoan và bà Phan Thị Ngấn (tổ dân phố Hùng Thắng, phường Trần Lãm) luôn hiu quạnh. Ngôi nhà ấy từng rộn rã tiếng con trẻ, từng chất chứa bao hy vọng về một mái ấm sau chiến tranh. Nhưng rồi, chất độc da cam đã cuốn đi mọi niềm vui, để lại cho đôi vợ chồng già khoảng lặng kéo dài đến tận hôm nay. Những ngày trái gió trở trời, hai ông bà chỉ còn biết nương tựa vào nhau lúc đau yếu.

Năm 1970, theo tiếng gọi của Tổ quốc, ông Khoan nhập ngũ và được phân về Tiểu đoàn 68, Binh trạm 32 Đoàn 559, sau đó ông chuyển sang Tiểu đoàn 51, Sư đoàn 471, Trung đoàn 33 với nhiệm vụ lái xe vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ khí, đạn dược chi viện cho chiến trường miền Nam. Những cung đường huyền thoại như Đường 20 Quyết Thắng, Đường 9, Đường 14, Khe Sanh, Lao Bảo... đều in dấu bánh xe của người lính lái xe quê lúa năm ấy.

Ông nhớ như in những năm 1971 - 1972, khi tuyến đường Trường Sơn trở thành trọng điểm đánh phá ác liệt của quân đội Mỹ, sau mỗi trận bom, hai bên đường chỉ còn những thân cây trơ trụi, lá úa vàng, cành khẳng khiu. Là con đường độc đạo đưa vũ khí, lương thực vào chiến trường, nên dù khó khăn và nguy hiểm, ông Khoan cùng đồng đội vẫn vượt qua với quyết tâm “Tất cả vì Tổ quốc quyết sinh”.

Không ai có thể hình dung rằng thứ hóa chất vô hình phủ xuống những cánh rừng năm ấy sẽ đi cùng mình suốt phần đời còn lại, len vào cả cuộc sống của những đứa con sinh ra sau chiến tranh. Cuối năm 1977, ông Khoan xuất ngũ trở về quê hương, xây dựng gia đình với bà Phan Thị Ngấn. Năm 1978, con gái đầu lòng của ông bà là chị Nguyễn Thị Ngọc ra đời, mang theo bao niềm hy vọng của đôi vợ chồng trẻ. Thế nhưng, hạnh phúc ấy chỉ kéo dài vỏn vẹn ba năm. Khi lên ba tuổi, chị Ngọc mắc viêm cầu thận và qua đời năm 1980.

Giữa đau đớn khi mất con, năm 1982, ông Khoan được xác định nhiễm chất độc da cam. Từ đó, cuộc sống của ông kéo dài trong nỗi ám ảnh không gọi thành tên. Sau cái chết của người con gái đầu lòng, như bao người làm cha khác, ông Khoan chỉ mong ba người con còn lại được lớn lên bình yên. Thế nhưng, anh Nguyễn Xuân Thắng, chị Nguyễn Thị Hương, anh Nguyễn Xuân Thành đều mắc bệnh ung thư rồi lần lượt qua đời vào các năm 1988, 2000 và 2006. Mỗi lần tiễn đưa con là mỗi lần trái tim người cha như thêm một vết cắt…

Để tìm niềm an ủi, động viên giữa những nỗi đau mang tên chất độc da cam, cuối năm 2006, thương cảnh cháu Nguyễn Quang Sơn mồ côi cả cha lẫn mẹ, ông Khoan bàn với vợ đón cháu từ Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi về chăm sóc tỉnh Thái Bình (cũ) về nuôi. Đó vừa là sự cưu mang dành cho một đứa trẻ bất hạnh, vừa là cách để lấp đầy khoảng trống quá lớn trong căn nhà đã vắng tiếng trẻ thơ.

Suốt gần 20 năm, ông bà dồn tất cả tình yêu thương cho cháu Sơn như máu mủ ruột rà. Ông bà từng nghĩ, sau bao biến cố, ông trời cuối cùng cũng để lại cho mình một chỗ dựa lúc tuổi xế chiều nhưng số phận lại một lần nữa thử thách họ. Năm 2025, khi đang lập nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh, cháu Sơn không may gặp tai nạn giao thông và qua đời. Ngày nhận tin dữ, căn nhà nhỏ lại thêm một lần phủ kín vành khăn trắng…

Ngước mắt nhìn lên ban thờ các con, bà Phan Thị Ngấn nghẹn ngào: “Tôi bốn lần mang nặng đẻ đau, năm lần “người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh”. Cuộc đời nghiệt ngã với vợ chồng tôi quá...”. Còn với ông Khoan - người lính từng bình thản, can trường vượt qua những cung đường bom đạn Trường Sơn năm xưa, giờ đây khi nhắc đến chiến tranh và những người con vắn số, ông cũng không giấu nổi nước mắt. Với ông, cuộc chiến với nỗi đau da cam có lẽ là cuộc chiến khốc liệt nhất… Và ông cũng chính là một trong những nhân chứng sống của tội ác do quân đội Mỹ gây ra trong chiến tranh.

*Hậu quả kéo dài từ thảm họa da cam

Tuổi đã cao, sức đã yếu, điều cựu chiến binh Trần Văn Đãn (thôn Thiện Tường, xã Nam Cường, tỉnh Hưng Yên) lo lắng nhất là số phận của con gái khi một ngày nào đó vợ chồng ông không còn nữa. 
Ảnh: Thế Duyệt – TTXVN

Hơn nửa thế kỷ đất nước hòa bình, thảm họa da cam vẫn hiện hữu trong nhiều mái ấm khi di chứng mà nó để lại sang những thế hệ sau. Trong căn nhà lọt thỏm giáp cánh đồng thuộc thôn Thiện Tường (xã Nam Cường), ông Trần Văn Đãn (74 tuổi) đang xúc cho chị Trần Thị Mai từng miếng cơm. 48 tuổi nhưng chị Mai vẫn chỉ như đứa trẻ, lúc khóc lúc cười trong vô thức. Ông Đãn kể, trước đây khi lên cơn kích động, chị bỏ nhà đi lang thang hoặc tự làm đau mình, buộc vợ chồng ông phải nhốt chị trong căn nhà mái bro xi măng bịt kín. Đối với người làm cha, làm mẹ, đó là việc làm không dễ dàng.

Sau những năm tháng chiến đấu tại Quảng Trị và mặt trận phía Nam, năm 1975, ông Đãn trở về quê hương và lập gia đình. Ba năm sau, chị Trần Thị Mai chào đời nhưng niềm vui làm cha chưa kịp trọn vẹn thì bác sĩ thông báo chị Mai mắc bệnh não bẩm sinh. Suốt gần 50 năm qua, vợ chồng ông Đãn thay nhau chăm sóc con gái bệnh tật. Ở tuổi 74, đôi chân ông Đãn đã yếu vì di chứng chiến tranh nhưng điều ông lo lắng nhất là nếu mình mất đi, không biết ai sẽ chăm chị Mai.

Dù tuổi đã cao nhưng bà Phạm Thị Lán (thôn Thượng Bái, xã Diên Hà, tỉnh Hưng Yên) hằng ngày vẫn phải chăm sóc con trai bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam/dioxin nằm liệt giường đã 41 năm nay. 
Ảnh: Thế Duyệt - TTXVN

Cũng như ông Đãn, bà Phạm Thị Lán (thôn Thượng Bái, xã Diên Hà) cũng đang hằng ngày chăm sóc người con trai Nguyễn Văn Sang nằm liệt giường đã 41 năm nay. Nỗi khó nhọc đè nặng lên vai người phụ nữ tảo tần khi chồng bà là ông Nguyễn Xuân Thủy nhiễm chất độc da cam, sức khỏe yếu. Năm 2024, sau nhiều năm chống chọi với bệnh tật, ông Thủy qua đời, bà Lán một mình chăm con. Dù anh Sang được hưởng chế độ nạn nhân gián tiếp bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam nhưng với bà, nỗi lo thiếu người chăm sóc luôn là nỗi trăn trở không nguôi, nhất là khi tuổi bà ngày càng cao.

Bà Lán tâm sự: “Có lúc mệt đến kiệt sức nhưng nhìn con lại không đành lòng. Cháu không biết nói, tay chân cũng không cử động được. Là mẹ, còn sống ngày nào thì tôi còn chăm con ngày ấy. Chỉ sợ mai này mình già yếu rồi mất đi, không biết ai sẽ thay mình lo cho con...".

Chứng kiến nhiều câu chuyện buồn và ám ảnh từ thảm họa da cam trong 20 năm làm Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thái Bình (cũ), Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Đức Hạnh cho biết, điều khiến ông đau xót hơn cả là những đứa trẻ sinh ra sau chiến tranh mang di chứng chất độc da cam. Với ông, nạn nhân nhiễm chất độc da cam là những người nghèo nhất trong số những người nghèo và cũng là những người đau khổ nhất trong số những người đau khổ. Bởi vậy, xoa dịu nỗi đau da cam không chỉ là sự tri ân đối với những người đã hy sinh, cống hiến cho đất nước, mà còn là trách nhiệm, là nghĩa tình của cả cộng đồng để những phận người kém may mắn ấy có thêm điểm tựa vươn lên./.(Còn nữa)

*Bài 2: Viết tiếp những câu chuyện về hy vọng

Thu Hoài

Tin liên quan

Xem thêm