Khoa học

Chính quyền số từ cơ sở: Định hình “công dân số” - động lực cho phát triển bền vững

TP. Hồ Chí Minh

Khi người dân biết sử dụng công nghệ để giao dịch, tiếp cận dịch vụ công, chăm sóc sức khỏe, sản xuất và kinh doanh, chuyển đổi số bắt đầu tạo ra một năng lực mới của xã hội.

Chiếc điện thoại không còn chỉ là phương tiện liên lạc mà trở thành “cửa ngõ” để người dân tiếp cận dịch vụ công, y tế, giao dịch và nhiều tiện ích khác trong đời sống. 
Ảnh: Hữu Duyên - TTXVN

Sau “Bình dân học vụ số”, điều quan trọng không chỉ là bao nhiêu người đã cài ứng dụng hay kích hoạt tài khoản mà là kỹ năng số có thực sự trở thành một phần của đời sống hay không.

Khi người dân biết sử dụng công nghệ để giao dịch, tiếp cận dịch vụ công, chăm sóc sức khỏe, sản xuất và kinh doanh, chuyển đổi số bắt đầu tạo ra một năng lực mới của xã hội. Đó cũng là nền tảng để Thành phố Hồ Chí Minh tiến từ phổ cập công nghệ đến xây dựng công dân số - nguồn lực cho phát triển bền vững.

*Khi kỹ năng số trở thành kỹ năng sống

Ở xã Dầu Tiếng, những tiện ích số đang dần trở thành một phần trong sinh hoạt hằng ngày của người dân. Bà Nguyễn Thị Hưng ở ấp Định Thành cho biết, nhiều việc trước đây phải trực tiếp đi lại nay có thể thực hiện ngay trên chiếc điện thoại thông minh, từ mua sắm, làm hộ chiếu đến đăng ký khám bệnh. “Chỉ với chiếc điện thoại này, tôi có thể mua những đồ dùng thiết yếu cho gia đình mà không phải ra chợ, đăng ký làm và nhận hộ chiếu tại nhà, đặt trước lịch khám tại các bệnh viện trong Thành phố. Mọi việc thuận tiện hơn, mình cũng chủ động được thời gian”, bà Hưng chia sẻ.

Từ trải nghiệm của bà Hưng có thể thấy, “công dân số” không phải một khái niệm xa vời. Khái niệm này bắt đầu từ những thao tác rất đời thường như biết tìm thông tin đúng nơi, sử dụng điện thoại để đăng ký dịch vụ, giao dịch, đặt lịch và theo dõi công việc của mình. Khi những thao tác ấy trở thành thói quen, chiếc điện thoại không còn chỉ là phương tiện liên lạc mà trở thành kênh tiếp cận để người dân sử dụng dịch vụ công, y tế, giao dịch và nhiều tiện ích khác trong đời sống.

Quan trọng hơn, sự thay đổi này cho thấy kỹ năng số đang dần chuyển từ “biết sử dụng” sang “biết khai thác”. Người dân không chỉ làm theo hướng dẫn khi có việc phát sinh mà bắt đầu chủ động tìm kiếm thông tin, lựa chọn dịch vụ phù hợp và sắp xếp công việc dựa trên các tiện ích số. Đó chính là bước chuyển để kỹ năng số trở thành kỹ năng sống, tạo nền tảng hình thành công dân số từ những nhu cầu thiết thực nhất của mỗi gia đình.

Từ số hóa hồ sơ, tổ chức lại quy trình tiếp nhận đến giải quyết thủ tục không phụ thuộc địa giới hành chính, hiệu quả ngày càng được nhìn bằng những kết quả cụ thể. 
Ảnh: Hữu Duyên - TTXVN

Sự chuyển đổi ấy cũng diễn ra ở những địa bàn có đời sống gắn với sản xuất nông nghiệp như ở xã Long Hòa. Theo chị Quảng Trúc Quyên, Phó trưởng Phòng Văn hóa - Xã hội xã Long Hòa, khoảng 80% người trưởng thành biết sử dụng điện thoại thông minh trên địa bàn đã có thể thực hiện những tiện ích như thanh toán không dùng tiền mặt, tra cứu thông tin trên VNeID.

Bước chuyển này cũng được ghi nhận rõ hơn ở xã Thanh An, khi kỹ năng số bắt đầu đi vào hoạt động kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2026, có 60/78 doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn, tương đương 76,92%, đã ứng dụng công nghệ số như hóa đơn điện tử, hợp đồng điện tử. Ba sản phẩm OCOP gồm trà An An, bơ Tám Thành và dưa lưới Phúc Đạt được đưa lên sàn thương mại điện tử; 100% tiểu thương tại chợ Thanh An và chợ An Lập được trang bị mã QR thanh toán.

Cùng với đó, 9.368 người trưởng thành đã có chữ ký số cá nhân; 4.369 hộ dân cài ứng dụng Công dân số; 2.362 lượt người được hướng dẫn thanh toán không dùng tiền mặt. “Cổng học tập số cộng đồng xã Thanh An” thu hút hơn 2.700 người đăng ký với hơn 9.400 lượt làm bài kiểm tra.

Những con số này cho thấy chuyển đổi số ở cơ sở đang vượt dần khỏi phạm vi thủ tục hành chính. Khi một tiểu thương quen thực hiện thanh toán bằng QR, hộ sản xuất đưa sản phẩm lên sàn, người dân sử dụng chữ ký số hay ứng dụng Công dân số, công nghệ đã tham gia trực tiếp vào đời sống và sinh kế.

Tại phường An Lạc, quá trình này mở rộng sang kết nối giữa các doanh nghiệp. Từ định hướng phát triển thương mại - dịch vụ, phường phối hợp xây dựng sàn thương mại điện tử B2B nhằm tăng tương tác giữa doanh nghiệp trên địa bàn và kết nối với các đối tác bên ngoài. Thông qua nền tảng, doanh nghiệp có thêm kênh tìm kiếm cơ hội về vốn, nguyên liệu, vật tư và đầu ra sản phẩm.

Ông Lê Tấn Minh Phương, Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Thang máy Việt Đông Hải, một doanh nghiệp tham gia mạng lưới cho biết, việc kết nối B2B giúp doanh nghiệp quảng bá thương hiệu trong cộng đồng, tiếp cận thêm khách hàng có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch vụ.

Hoạt động hằng ngày của doanh nghiệp cũng ngày càng gắn với môi trường số. Các thủ tục bảo hiểm, thuế và nhiều loại hồ sơ đã được thực hiện trực tuyến; thông tin xử lý được gửi qua thư điện tử. Chính quyền địa phương đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ vướng mắc, kết nối tiếp cận vốn và các giải pháp chuyển đổi số trong thanh toán.

*Từ phổ cập kỹ năng đến nguồn lực phát triển

Những kết quả bước đầu của phong trào “Bình dân học vụ số” cũng đặt ra câu hỏi về sức bền. Một chiến dịch có thể giúp hàng nghìn người cài ứng dụng trong thời gian ngắn nhưng để kỹ năng trở thành thói quen đòi hỏi quá trình hỗ trợ lâu dài, nhất là với người cao tuổi, người hạn chế thiết bị hoặc những nhóm ít thường xuyên tiếp xúc công nghệ.

Trên thực tế, khoảng cách số vẫn hiện hữu giữa các nhóm dân cư. Người cao tuổi, người ít sử dụng thiết bị thông minh gặp khó khi thực hiện thủ tục trực tuyến; một số nơi thiếu thiết bị hoặc đường truyền chưa ổn định. Ngay cả người đã biết sử dụng công nghệ thành thạo cũng có thể lúng túng trước một dịch vụ mới hoặc trở thành mục tiêu của các thủ đoạn lừa đảo trực tuyến ngày càng tinh vi.

Chủ tịch UBND xã Dầu Tiếng Nguyễn Hữu Thành cho biết, tổ công nghệ số cộng đồng có vai trò đưa kỹ năng đến từng ấp, nhất là các địa bàn xa trung tâm, nơi trước đây khả năng sử dụng thiết bị thông minh còn hạn chế. Lực lượng tại chỗ cần được duy trì như một “điểm tựa số” thường xuyên, đủ khả năng hỗ trợ khi người dân gặp một thủ tục mới, một ứng dụng mới hay một nguy cơ mới trên môi trường mạng.

Điều này cho thấy lực lượng cộng đồng không thể chỉ được huy động trong các đợt cao điểm. Công nghệ thay đổi liên tục, một người hôm nay đã biết sử dụng VNeID có thể ngày mai lại gặp một dịch vụ mới; người quen thanh toán bằng QR vẫn có thể đối mặt với thủ đoạn lừa đảo mới.

Nắm bắt được yêu cầu của thực tiễn, xã Thanh An tiếp tục duy trì và kiểm tra định kỳ hoạt động của 18 tổ công nghệ số cộng đồng, giao nhiệm vụ hướng dẫn dịch vụ công trực tuyến, thanh toán không dùng tiền mặt và ứng dụng Công dân số; đồng thời đặt mục tiêu mở rộng Cổng học tập số cộng đồng lên ít nhất 4.000 người và tổ chức Ngày hội Công dân số tại 18 ấp.

Tuy nhiên, chính thực tế Thanh An cũng chỉ ra những điểm nghẽn cần tiếp tục tháo gỡ. Nhận thức và khả năng tiếp cận thiết bị thông minh của một bộ phận người dân, nhất là người lớn tuổi còn hạn chế; kết nối, chia sẻ dữ liệu với một số nền tảng cấp Thành phố chưa hoàn toàn đồng bộ. Trong kinh tế số, số sản phẩm tham gia thương mại điện tử còn ít, phần lớn hộ nông dân chưa tiếp cận kênh này; nguồn kinh phí bổ sung cho một số dự án chưa được bố trí kịp thời.

Những vấn đề đó cho thấy bài toán tiếp theo không còn chỉ là duy trì một phong trào mà phải tiến tới một chiến lược phát triển công dân số. Với một “siêu đô thị” có những khu vực đô thị mật độ cao, vùng nông nghiệp xa trung tâm và điều kiện tiếp cận công nghệ khác nhau, chiến lược ấy cần đồng thời giải quyết hạ tầng kết nối, thiết bị, kỹ năng sử dụng và khả năng tự bảo vệ trên môi trường mạng.

Cách làm có thể khác nhau theo từng địa bàn. Phường An Lạc, với đặc thù thương mại - dịch vụ, định hướng là đưa năng lực số vào kết nối thị trường, hỗ trợ giao dịch doanh nghiệp, thanh toán điện tử và tiếp cận những công nghệ mới. Địa phương đã định hướng tổ chức hướng dẫn ứng dụng trí tuệ nhân tạo cho cán bộ, công chức và người dân; đồng thời phát triển các hình thức thanh toán số.

Trong khi đó tại xã Dầu Tiếng, yêu cầu trước hết vẫn là bảo đảm người dân ở các ấp, nhất là nhóm hạn chế kỹ năng và điều kiện thiết bị, không bị bỏ lại phía sau. Còn Thanh An đặt mục tiêu tiếp tục đưa hộ kinh doanh, hợp tác xã lên sàn thương mại điện tử và thí điểm mô hình nông nghiệp thông minh ứng dụng IoT, AI.

Bởi vậy, thước đo của giai đoạn tiếp theo cũng cần chuyển từ “số người đã được phổ cập” sang “số người thực sự sử dụng và tạo ra giá trị”. Sau “cầm tay chỉ việc”, mục tiêu phải là giúp người dân đi từ biết dùng đến sử dụng thành thạo, từ cần hỗ trợ đến có thể tự thực hiện, từ thụ hưởng tiện ích đến chủ động tham gia và tạo giá trị trên môi trường số.

Khi đó, “Bình dân học vụ số” không chỉ là một phong trào xóa khoảng cách công nghệ mà trở thành bước khởi đầu của chiến lược phát triển con người trong kỷ nguyên số. Với Thành phố Hồ Chí Minh, một chính quyền số hiệu quả cần những công dân đủ năng lực đồng hành; một nền kinh tế số phát triển cần người dân, doanh nghiệp biết khai thác công nghệ để tạo giá trị.

Định hình công dân số vì thế chính là bồi đắp nguồn lực nội sinh cho một siêu đô thị phát triển thông minh, bao trùm và bền vững./.(Hết)


Hữu Duyên

Tin liên quan

Xem thêm