Chính sách và phát triển

Hà Nội đưa truy xuất nguồn gốc đến các vùng rau chuyên canh

Hà Nội

Việc hình thành các vùng chuyên canh giúp nông dân thuận lợi hơn trong áp dụng quy trình canh tác chung, sử dụng vật tư nông nghiệp hợp lý và tổ chức thu hoạch, tiêu thụ.


Hà Nội đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, truy xuất nguồn gốc trong sản xuất rau an toàn. 
Ảnh đồ họa: TTXVN

Với 5.519 ha rau chuyên canh tại 269 vùng sản xuất, Hà Nội đang từng bước nâng cao chất lượng nông sản thông qua áp dụng quy trình canh tác an toàn, quản lý sức khỏe cây trồng và truy xuất nguồn gốc. Từ những vùng rau truyền thống đến các hợp tác xã ứng dụng công nghệ, việc minh bạch thông tin sản xuất đang trở thành yêu cầu quan trọng để đưa rau Thủ đô đến gần hơn với người tiêu dùng.

Từ vùng rau chuyên canh đến sản xuất an toàn

Với nhu cầu tiêu thụ thực phẩm lớn, Hà Nội đang chú trọng phát triển các vùng rau chuyên canh gắn với kiểm soát chất lượng và tổ chức tiêu thụ. Việc sản xuất theo quy trình an toàn không chỉ giúp nâng cao chất lượng nông sản mà còn tạo điều kiện để người trồng rau tham gia các chuỗi cung ứng ổn định.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, toàn thành phố hiện có khoảng 14.250 ha trồng rau, trong đó 5.519 ha rau chuyên canh tại 269 vùng sản xuất. Đây là cơ sở để thành phố tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, quản lý chất lượng và xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Tại xã Văn Đức, vùng sản xuất rau chuyên canh có diện tích trên 323 ha. Đây là một trong những vùng sản xuất rau tập trung của Hà Nội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc hướng dẫn kỹ thuật, tổ chức sản xuất và kiểm soát chất lượng sản phẩm.

Việc hình thành các vùng chuyên canh giúp nông dân thuận lợi hơn trong áp dụng quy trình canh tác chung, sử dụng vật tư nông nghiệp hợp lý và tổ chức thu hoạch, tiêu thụ. Tuy nhiên, diện tích sản xuất tập trung không đồng nghĩa toàn bộ sản phẩm đã đáp ứng cùng một tiêu chuẩn an toàn. Chất lượng rau vẫn phải được kiểm soát ở từng khâu sản xuất.

Một trong những giải pháp được ngành nông nghiệp Hà Nội chú trọng là quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM), hướng tới chăm sóc cây trồng trên cơ sở quản lý đồng bộ đất, nước, dinh dưỡng và sinh vật gây hại.

Theo thông tin Sở Nông nghiệp và Môi trường công bố ngày 9/10/2026, ngành đã tổ chức 140 lớp tập huấn dài hạn về các nội dung kỹ thuật như canh tác lúa cải tiến (SRI), rau, chè và 120 lớp tập huấn ngắn hạn cho nông dân.

Thông qua các hoạt động này, người sản xuất được tiếp cận kiến thức về chăm sóc cây trồng, nhận biết sâu bệnh và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đúng kỹ thuật. Đây là những yếu tố quan trọng để hạn chế rủi ro trong sản xuất, bảo đảm chất lượng nông sản và giảm tác động đến môi trường.

Đối với người trồng rau, áp dụng quy trình kỹ thuật còn gắn với hiệu quả kinh tế. Việc sử dụng hợp lý giống, phân bón, nguồn nước và thuốc bảo vệ thực vật có thể góp phần giảm chi phí đầu vào, hạn chế thiệt hại do sâu bệnh và nâng cao chất lượng sản phẩm khi thu hoạch.

Từ nhật ký sản xuất đến minh bạch nguồn gốc

Bên cạnh kiểm soát chất lượng trên đồng ruộng, Hà Nội đang từng bước đưa công nghệ số vào quản lý vùng trồng và truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Đây là một trong những giải pháp giúp cơ quan quản lý, doanh nghiệp thu mua và người tiêu dùng có thêm thông tin về quá trình sản xuất.

Theo Kế hoạch số 60/KH-SNNMT ngày 3/4/2026, ngành nông nghiệp triển khai thí điểm quản lý an toàn thực phẩm tại các vùng rau tập trung, trong đó có Văn Đức và Tráng Việt. Việc quản lý được định hướng thực hiện ngay từ vùng trồng, kết hợp kiểm soát quy trình sản xuất với xây dựng dữ liệu truy xuất nguồn gốc.

Mô hình trồng khoai tây được Trung tâm Khuyến nông Hà Nội triển khai hiệu quả, mang lại giá trị kinh tế cao cho bà con nông đân. 
Ảnh: Thiện Tâm

Tại Hợp tác xã Sản xuất, kinh doanh dịch vụ nông nghiệp Văn Đức, hoạt động số hóa đã được đưa vào quản lý sản xuất. Các hộ tham gia vùng chuyên canh hơn 200 ha thực hiện ghi chép nhật ký điện tử; từng thửa ruộng được gắn biển nhận diện, thông tin về quá trình chăm sóc, thu hoạch và đóng gói được tích hợp vào hệ thống truy xuất.

Với cách làm này, việc truy xuất không chỉ dừng ở thông tin về tên sản phẩm hay địa chỉ cơ sở sản xuất. Dữ liệu được cập nhật từ quá trình canh tác giúp tăng khả năng kiểm tra, đối chiếu khi sản phẩm được đưa ra thị trường.

Tại Hợp tác xã Rau quả sạch Chúc Sơn, sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và GlobalGAP được gắn với kiểm soát chất lượng và tổ chức tiêu thụ. Theo thông tin công bố ngày 9/10, hợp tác xã có gần 18 ha sản xuất, cung ứng khoảng 3 tấn rau mỗi ngày, doanh thu đạt từ 10 đến 13 tỷ đồng/năm.

Những mô hình này cho thấy, khi quy trình sản xuất được quản lý chặt chẽ, thông tin sản phẩm minh bạch và đầu ra được tổ chức ổn định, các hợp tác xã có thêm điều kiện phát triển sản xuất hàng hóa.

Tuy nhiên, truy xuất nguồn gốc không đơn thuần là gắn mã QR lên bao bì. Điều quan trọng là thông tin về vùng trồng, quá trình sử dụng vật tư, thu hoạch và sơ chế phải được ghi chép trung thực, cập nhật thường xuyên. Nếu thiếu dữ liệu hoặc dữ liệu không chính xác, mã truy xuất khó phát huy đầy đủ giá trị.

Đối với những hộ sản xuất nhỏ lẻ, việc chuyển từ ghi chép thủ công sang quản lý điện tử cũng đặt ra yêu cầu về kỹ năng sử dụng thiết bị, chi phí duy trì và sự hỗ trợ từ hợp tác xã, cơ quan chuyên môn.

Gắn sản xuất an toàn với thị trường tiêu thụ

Theo ông Nguyễn Mạnh Phương, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, thành phố đặt mục tiêu kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật dưới ngưỡng cho phép trên 90% diện tích rau chuyên canh; phấn đấu trên 30% sản lượng rau tại các vùng tập trung được kiểm soát qua hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử.

Đây là những mục tiêu cần tiếp tục triển khai, không phải kết quả đã hoàn thành. Để thực hiện, ngành nông nghiệp định hướng tăng sử dụng phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật sinh học, ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển liên kết từ cung ứng vật tư đến tiêu thụ sản phẩm.

Cùng với nâng cao chất lượng, việc xây dựng các chuỗi liên kết có ý nghĩa quan trọng đối với người trồng rau. Khi có kế hoạch sản xuất phù hợp với nhu cầu thu mua, các hộ nông dân và hợp tác xã có thể chủ động hơn trong lựa chọn giống, bố trí thời vụ, tổ chức thu hoạch và tiêu thụ.

Hà Nội cũng định hướng đẩy mạnh cơ giới hóa, phát triển nhà màng, nhà lưới, ứng dụng tưới tiết kiệm và công nghệ bảo quản sau thu hoạch. Các giải pháp này cần được lựa chọn phù hợp với quy mô sản xuất và khả năng đầu tư của từng địa phương.

Từ những vùng rau chuyên canh đến các hợp tác xã ứng dụng công nghệ, việc nâng cao chất lượng và minh bạch nguồn gốc đang trở thành yêu cầu xuyên suốt trong phát triển sản xuất rau của Hà Nội. Với người nông dân, hiệu quả cuối cùng không chỉ là sản lượng thu hoạch mà còn là khả năng tiêu thụ ổn định, giảm rủi ro và nâng cao giá trị sản phẩm. Với người tiêu dùng, đó là cơ sở để lựa chọn thực phẩm có nguồn gốc rõ ràng, được kiểm soát chất lượng ngay từ nơi sản xuất./.

PV

Xem thêm