Xã hội

Người cao tuổi hồi sinh, tạo thương hiệu cho cây chè Bình Sơn

Thanh Hóa

Ở tuổi đã cao, ông Lê Đình Tú, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Nông lâm nghiệp Bình Sơn vẫn miệt mài với những đồi chè, trực tiếp hướng dẫn người dân chăm sóc, chế biến, tìm đầu ra và kiên trì tìm cách nâng giá trị cây trồng truyền thống.

HTX hiện có 4 sản phẩm chè đạt OCOP 3 sao, mỗi năm cung ứng ra thị trường hơn 50 tấn chè khô các loại. 
Ảnh: TTXVN phát

Từ những quả đồi bạc màu, cây chè ở xã Thọ Bình, tỉnh Thanh Hóa đã trở thành sinh kế của hàng trăm hộ dân, hình thành vùng nguyên liệu hơn 400 ha và có sản phẩm đạt OCOP 4 sao. Góp phần vào sự chuyển mình ấy là ông Lê Đình Tú, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Nông lâm nghiệp Bình Sơn. Ở tuổi đã cao, ông vẫn miệt mài với những đồi chè, trực tiếp hướng dẫn người dân chăm sóc, chế biến, tìm đầu ra và kiên trì tìm cách nâng giá trị cây trồng truyền thống. Với ông, tuổi tác không phải là trở ngại để tiếp tục lao động mà là vốn kinh nghiệm để giữ nghề và cùng người dân làm giàu từ quê hương.

Hồi sinh cây chè trên những quả đồi bạc màu

Khoảng năm 1992, cây chè được đưa về trồng trên những quả đồi ở vùng Bình Sơn theo Dự án 327 nhằm phủ xanh đất trống, đồi trọc. Thời gian đầu, cây chè phát triển không thuận lợi. Địa hình đồi núi dốc, đất bạc màu, giống chè cũ năng suất thấp; trong khi người dân thiếu vốn, kỹ thuật và đầu ra sản phẩm chưa ổn định. Có thời điểm, một số hộ chặt bỏ chè để chuyển sang cây trồng khác. Những đồi chè từng được kỳ vọng tạo sinh kế cho người dân đứng trước nguy cơ thu hẹp diện tích.

Gần 30 năm gắn bó với vùng đất Bình Sơn, ông Lê Đình Tú thấu hiểu vì sao có thời điểm người dân từng muốn bỏ chè và cũng nhận ra tiềm năng của loại cây này nếu được sản xuất bài bản. Từ những trải nghiệm tích lũy qua năm tháng, ông kiên trì tìm cách thay đổi phương thức sản xuất, nâng chất lượng để cây chè thực sự trở thành sinh kế bền vững cho người dân.

Năm 2016, khi được tín nhiệm làm Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Nông lâm nghiệp Bình Sơn, ông có điều kiện để thực hiện những điều mình trăn trở. Ông cùng Hợp tác xã vận động các hộ dân tham gia liên kết, hướng dẫn thay thế một số giống chè cũ bằng những giống có chất lượng và năng suất tốt hơn như, PH8, PH1, chè lai F1. Cùng với đó là hướng dẫn người dân áp dụng quy trình VietGAP, chú trọng an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và kiểm soát chất lượng ngay từ vùng nguyên liệu.

Đây là công việc không dễ, bởi thay đổi tập quán sản xuất đã hình thành trong nhiều năm luôn cần thời gian. Ông Tú và cán bộ hợp tác xã phải đến từng hộ, trao đổi, hướng dẫn và quan trọng nhất là để người dân thấy được hiệu quả từ những thay đổi ấy.

Từ chỗ sản xuất manh mún, các hộ dần hình thành cách làm thống nhất hơn. Người dân bắt đầu quan tâm đến chất lượng búp chè, thời điểm thu hái, quy trình chăm sóc thay vì chỉ chú trọng sản lượng.

Theo ông Trần Đình Bình, Phó Chủ tịch UBND xã Thọ Bình, toàn xã hiện có hơn 400 ha chè, trong đó hơn 300 ha đang cho thu hoạch ổn định, bình quân khoảng 7 tấn chè tươi/ha/năm. Cây chè đã trở thành một trong những cây trồng chủ lực, tạo nguồn thu ổn định cho nhiều hộ dân. Trong quá trình khôi phục và nâng giá trị vùng chè, Hợp tác xã Dịch vụ Nông lâm nghiệp Bình Sơn, với vai trò của ông Lê Đình Tú đã góp phần quan trọng trong việc tập hợp các hộ dân, hướng dẫn thay đổi giống, quy trình chăm sóc, chế biến và từng bước xây dựng thương hiệu sản phẩm.

Ông Lê Đình Tú, Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Nông lâm nghiệp Bình Sơn, kiểm tra vùng nguyên liệu chè của HTX. 
Ảnh: TTXVN phát

Giữ nghề cũ bằng cách làm mới

Việc thay đổi giống, quy trình sản xuất và tập hợp các hộ dân đã giúp vùng chè từng bước ổn định trở lại. Nhưng với ông Tú, giữ được cây chè trên đồi mới chỉ là bước đầu. Muốn người dân thực sự gắn bó lâu dài, cây chè phải mang lại giá trị cao hơn, để công sức bỏ ra được đáp lại bằng thu nhập tương xứng. Từ suy nghĩ đó, ông tiếp tục cùng hợp tác xã tìm cách nâng giá trị sản phẩm ngay sau khi những búp chè được thu hái.

Thay vì chỉ bán chè tươi hoặc chè khô theo cách truyền thống, hợp tác xã đầu tư hơn 2 tỷ đồng cho máy sấy lạnh, máy nghiền bột chè, máy hút chân không, dây chuyền đóng trà túi lọc và hệ thống tưới tự động. Sản phẩm được kiểm soát từ vùng nguyên liệu đến chế biến, đóng gói và có tem truy xuất nguồn gốc.

Đổi mới cách làm nhưng ông Tú không bỏ những kinh nghiệm chế biến đã được người dân tích lũy qua nhiều năm. Đặc biệt ở công đoạn sao chè, kinh nghiệm của người thợ vẫn giữ vai trò quan trọng. Búp chè được thu hái đúng độ tuổi, đưa về chế biến trong ngày, người làm phải biết căn lửa, thời gian và cách đảo chè để giữ màu, hương vị tự nhiên.

Bà Lê Thị Tuyết, 62 tuổi, người có nhiều năm làm nghề sao chè cho biết, mỗi mẻ chè đều cần được theo dõi kỹ. Từ sao, vò, sàng sẩy đến sấy ổn định độ ẩm, mỗi công đoạn đều ảnh hưởng đến chất lượng thành phẩm. Theo bà, máy móc giúp công việc thuận lợi và ổn định hơn nhưng kinh nghiệm của người làm chè vẫn không thể thiếu.

Sự kết hợp giữa kinh nghiệm truyền thống và phương thức sản xuất mới giúp chè Bình Sơn từng bước ổn định chất lượng. Năm 2019, chè khô Bình Sơn được công nhận OCOP 3 sao. Đến nay, hợp tác xã có 4 sản phẩm chè đạt OCOP 3 sao, mỗi năm cung ứng ra thị trường hơn 50 tấn chè khô các loại. Tháng 12/2024, sản phẩm Chè sạch Bình Sơn được công nhận OCOP 4 sao cấp tỉnh.

Với ông Tú, OCOP không phải đích đến cuối cùng. Điều ông quan tâm là thương hiệu phải tạo ra giá trị thực cho người trồng chè: Sản phẩm bán được tốt hơn, vùng nguyên liệu được duy trì và người dân có thêm động lực gắn bó với cây chè.

Bởi vậy, hợp tác xã không tổ chức liên kết theo hướng người dân chỉ sản xuất rồi giao toàn bộ sản phẩm. Nhiều hộ vẫn chủ động đầu tư máy sao, máy hút chân không, đóng gói tại gia đình nhưng cùng tuân thủ các yêu cầu chung về chất lượng. Hợp tác xã hỗ trợ kỹ thuật, chia sẻ kinh nghiệm và kết nối đầu ra. Cách làm này giúp các hộ vừa chủ động sản xuất, vừa có thêm chỗ dựa về kỹ thuật và thị trường.

Không chỉ cây chè, ông Tú còn tìm cách mở thêm hướng sinh kế cho người dân thông qua mô hình nuôi ong dưới tán rừng. Mật ong hoa rừng Bình Sơn được công nhận OCOP 3 sao, hàng trăm hộ tham gia nuôi ong, tạo thêm nguồn thu và giảm sự phụ thuộc vào một loại cây trồng.

Gần 30 năm gắn bó với vùng đất này, ông Tú có trong tay vốn kinh nghiệm mà không phải ai cũng có. Nhưng điều đáng quý là ông không chỉ dựa vào kinh nghiệm cũ. Ở tuổi cao, ông vẫn trực tiếp đi giữa những đồi chè, xuống cơ sở chế biến, gặp gỡ các hộ dân; đồng thời tìm hiểu phương pháp sản xuất mới, quan tâm đến chất lượng, truy xuất nguồn gốc, đóng gói và thị trường.

Với ông, người cao tuổi có lợi thế về kinh nghiệm nhưng kinh nghiệm chỉ thực sự có giá trị khi được vận dụng để giải quyết những yêu cầu mới. Bởi vậy, ông vừa giữ những kỹ thuật làm chè truyền thống, vừa mạnh dạn đưa máy móc, quy trình mới vào sản xuất.

“Làm chè phải nghĩ đến lâu dài. Nếu hôm nay mình làm được sản phẩm tốt mà ngày mai chất lượng không giữ được thì thương hiệu cũng không tồn tại được”, ông Tú nói.

Cách nghĩ ấy lý giải vì sao ở tuổi cao, ông vẫn bền bỉ với cây chè. Với ông, giữ nghề không có nghĩa là giữ nguyên cách làm cũ mà phải biết thay đổi để nghề có thể tồn tại và người dân có thể sống được bằng nghề. Thời gian tới, Hợp tác xã Dịch vụ Nông lâm nghiệp Bình Sơn định hướng mở rộng diện tích chè theo hướng hữu cơ, đồng thời nghiên cứu gắn vùng chè với du lịch trải nghiệm. Với ông Tú, đó là những bước đi tiếp theo để giá trị cây chè được nâng lên và người dân tiếp tục có thêm lý do để gắn bó với vùng đồi quê mình./.

Khiếu Tư

Tin liên quan

Xem thêm