Sức khỏe

Sàng lọc và phát hiện sớm ung thư vú theo chuẩn quốc tế

Ung thư vú hiện chiếm gần 30% tổng số ca ung thư ở phụ nữ. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm, tỷ lệ điều trị thành công có thể lên tới 90%

Chiều 29/3,  Bệnh viện Vĩnh Phúc VPI- CTCP Bệnh viện Quốc tế Vĩnh Phúc, tỉnh Phú Thọ, tổ chức hội thảo khoa học “Sàng lọc và phát hiện sớm ung thư vú theo chuẩn quốc tế”, thu hút gần 100 chuyên gia, bác sĩ cùng đại diện Sở Y tế và đội ngũ y tế đến từ Phú Thọ và các khu vực lân cận.

Tại hội thảo, ông Nguyễn Đắc Ca, Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh Phú Thọ cho biết: Ung thư vú hiện chiếm gần 30% tổng số ca ung thư ở phụ nữ. Tuy nhiên, nếu được phát hiện sớm, tỷ lệ điều trị thành công có thể lên tới 90%, đồng thời giúp giảm đáng kể gánh nặng về chi phí và tâm lý cho người bệnh. Điều đáng lưu ý là ung thư vú khi được phát hiện kịp thời hoàn toàn có thể kiểm soát hiệu quả, thậm chí chữa khỏi. Chính vì vậy, trách nhiệm của ngành y tế không chỉ dừng lại ở điều trị mà cần chủ động đi trước một bước: đẩy mạnh sàng lọc, phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.

Bác sĩ Vương Trung Kiên - Giám đốc chuyên môn Bệnh viện Vĩnh Phúc VPI phát biểu khai mạc hội thảo. 
Ảnh: Nguyễn Thảo - TTXVN

Bác sĩ Vương Trung Kiên, Giám đốc chuyên môn Bệnh viện Vĩnh Phúc VPI- CTCP Bệnh viện Quốc tế Vĩnh Phúc cho biết, ung thư vú hiện là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở phụ nữ và đang có xu hướng trẻ hóa; khoảng 26% ca bệnh vẫn được phát hiện ở giai đoạn muộn. Nếu được chẩn đoán sớm, khả năng điều trị thành công rất cao. Vì vậy, hội thảo hướng tới thúc đẩy sàng lọc, phát hiện sớm theo chuẩn quốc tế, đưa các mô hình và kỹ thuật hiện đại như đọc kép, X-quang vú số hóa (DBT), MRI vú rút gọn (AB-MRI) vào thực tiễn, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe phụ nữ.

Các tham luận tại hội thảo cũng đã mang đến cái nhìn toàn diện, từ kinh nghiệm triển khai mô hình sàng lọc tại các quốc gia phát triển, cập nhật các phương tiện chẩn đoán tiên tiến đến việc ứng dụng các kỹ thuật can thiệp và xây dựng phác đồ điều trị đa mô thức.

Bác sĩ chuyên khoa II Lưu Hồng Nhung, Phó Chủ tịch Chi hội Chẩn đoán hình ảnh vú, Hội Điện quang và Y học Hạt nhân Việt Nam tham luận tại hội thảo. 
Ảnh: Nguyễn Thảo - TTXVN

Đưa ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ các mô hình sàng lọc ung thư vú tại các nước phát triển, bác sĩ chuyên khoa II Lưu Hồng Nhung, Phó Chủ tịch Chi hội Chẩn đoán hình ảnh vú, Hội Điện quang và Y học Hạt nhân Việt Nam cho biết, sàng lọc có vai trò đặc biệt quan trọng khi giúp giảm tới 41% nguy cơ tử vong và 20% số ca phát hiện ở giai đoạn muộn.

Theo bác sĩ Nhung, chụp nhũ ảnh hiện là tiêu chuẩn nền tảng trong sàng lọc ung thư vú trên thế giới. Tuy nhiên, để triển khai rộng rãi theo mô hình của các quốc gia phát triển, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức lớn về số lượng trang thiết bị, nguồn nhân lực, chi phí đầu tư cũng như năng lực vận hành hệ thống. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần lựa chọn hướng đi phù hợp, khả thi và bền vững. Trước mắt, có thể thí điểm triển khai sàng lọc có tổ chức tại các khu vực đủ điều kiện, ưu tiên nhóm nguy cơ cao và từng bước mở rộng phạm vi. Đồng thời, cần chuẩn hóa hệ thống chuyên môn, tăng cường kiểm soát chất lượng; gắn hoạt động sàng lọc với quy trình khám, chẩn đoán và điều trị nhanh nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời.

Cập nhật về các phương tiện chẩn đoán hình ảnh trong ung thư vú, bác sĩ chuyên khoa II Trương Thị Thanh, Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Can thiệp điện quang, Bệnh viện Đại học Y Hà Nội cho biết, hiện nay X-quang tuyến vú 2D và 3D vẫn là phương pháp nền tảng, đồng thời là kỹ thuật duy nhất được chứng minh có khả năng làm giảm tỷ lệ tử vong do ung thư vú trong sàng lọc, đặc biệt hiệu quả với các tổn thương nhỏ, vi vôi hóa và bất đối xứng.

Tuy nhiên, X-quang 2D truyền thống vẫn còn những hạn chế, nhất là ở phụ nữ có mô vú đặc. Sự ra đời của X-quang số hóa cắt lớp tuyến vú (DBT) đã góp phần nâng cao độ nhạy thêm 20–40%, đặc biệt trong mô vú dày; đồng thời giảm 15–30% tỷ lệ gọi lại không cần thiết và cải thiện khả năng phát hiện các tổn thương dạng khối cũng như vi vôi hóa rải rác. Xu hướng hiện nay là ứng dụng các công nghệ tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả chẩn đoán, trong đó có trí tuệ nhân tạo (AI) trong siêu âm vú 3D, siêu âm đàn hồi, kết hợp siêu âm B-mode với cộng hưởng từ tuyến vú (MRI), đặc biệt là MRI vú rút gọn (AB-MRI), góp phần tăng độ chính xác và hỗ trợ quyết định lâm sàng.

Các chuyên gia từ tuyến Trung ương thảo luận, trao đổi và tư vấn những vấn đề liên quan đến ung thư vú.
Ảnh: Nguyễn Thảo - TTXVN

Theo Tiến sĩ, bác sĩ Hoàng Anh Dũng, Phó Trưởng Khoa Ngoại Vú, Bệnh viện K, ung thư vú là một bệnh lý không đồng nhất, đòi hỏi cách tiếp cận điều trị toàn diện và cá thể hóa cho từng người bệnh. Theo đó, điều trị ung thư vú hiện nay được triển khai theo mô hình đa mô thức, với sự phối hợp chặt chẽ giữa nhiều chuyên ngành như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị và các liệu pháp toàn thân. Đáng chú ý, xu hướng điều trị đang mở rộng chỉ định các liệu pháp tân bổ trợ, đặc biệt đối với nhóm bệnh nhân nguy cơ cao, kể cả ở giai đoạn sớm. Việc lựa chọn phác đồ điều trị cần được cân nhắc trên nhiều yếu tố, bao gồm đặc điểm sinh học phân tử của khối u, các phương pháp điều trị nội khoa và xạ trị, nhằm tối ưu hiệu quả và mang lại kết quả tốt nhất cho người bệnh.

Hội thảo là cơ hội để các chuyên gia, cơ sở y tế cùng trao đổi, cập nhật tiêu chuẩn quốc tế, thúc đẩy sàng lọc và phát hiện sớm ung thư vú, góp phần bảo vệ sức khỏe và nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ Việt Nam./.

Nguyễn Thị Thảo

Tin liên quan

Xem thêm