Khoa học

Việt Nam đã cải thiện rõ rệt mức độ hội nhập quốc tế về sở hữu trí tuệ

Cục Sở hữu trí tuệ sẽ tập trung vào mục tiêu xuyên suốt là hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách góp phần nâng cao chất lượng và độ tin cậy của hệ thống sở hữu trí tuệ theo hướng tiệm cận chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Việt Nam đã chủ động hoàn thiện thể chế, từng bước xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ tương thích với chuẩn mực quốc tế và đạt được nhiều kết quả tích cực. Việt Nam đã có nhiều “điểm sáng” trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ so với các quốc gia trong khu vực, nhiều chỉ số và tiêu chí được cải thiện.

Mức độ hội nhập quốc tế của Việt Nam về sở hữu trí tuệ được đo lường thông qua mức độ tham gia và thực thi các điều ước quốc tế và Hiệp định thương mại tự do (FTA) có tiêu chuẩn cao về sở hữu trí tuệ.
Ảnh minh họa: Kiều Nga.

* Tốc độ hội nhập nhanh, chủ động tiếp cận chuẩn mực cao

Trong thời gian diễn ra Kỳ họp thường niên Đại hội đồng thành viên Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) lần thứ 68 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Vũ Hải Quân đánh giá cao vai trò và những sáng kiến của WIPO đối với sự phát triển của hệ thống sở hữu trí tuệ toàn cầu, đặc biệt trong các hoạt động nâng cao năng lực quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, hỗ trợ doanh nghiệp, đào tạo nguồn nhân lực và thúc đẩy thương mại hóa tài sản trí tuệ. Khẳng định trách nhiệm của Việt Nam đối với hệ thống sở hữu trí tuệ quốc tế, Bộ trưởng Vũ Hải Quân cho biết: Việt Nam có tốc độ hội nhập nhanh, chủ động tiếp cận để thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ quốc tế về sở hữu trí tuệ theo các điều ước đa phương và song phương mà Việt Nam là thành viên nhằm cùng các quốc gia xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ toàn cầu theo hướng hiện đại, hiệu quả, góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo vì sự phát triển chung.

Ông Nguyễn Hoàng Giang, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết: Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, sở hữu trí tuệ ngày càng khẳng định vai trò là một trụ cột quan trọng của nền kinh tế tri thức. So với nhiều quốc gia trong khu vực, Việt Nam có tốc độ hội nhập về sở hữu trí tuệ nhanh, khung pháp lý cởi mở và chủ động tiếp cận các chuẩn mực cao.

Hiện, một số nước có hệ thống sở hữu trí tuệ phát triển nhưng mức độ tham gia của doanh nghiệp còn hạn chế, thì tại Việt Nam, ở các lĩnh vực như: Nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp, doanh nghiệp đã tham gia khá sâu vào hệ thống cho thấy mức độ hội nhập quốc tế về sở hữu trí tuệ của Việt Nam cải thiện rõ rệt, nhận thức về sở hữu trí tuệ không còn dừng ở cấp độ pháp lý, mà đã bắt đầu gắn với hoạt động kinh doanh.

Cùng với Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 cho thấy việc cải cách mạnh về thủ tục và rút ngắn thời gian xử lý đơn cũng tạo ra một lợi thế cạnh tranh nhất định trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến “tốc độ ra thị trường” với hệ thống bảo hộ nhanh. Hệ thống pháp luật trong nước được xây dựng và hoàn thiện trên nền tảng các chuẩn mực quốc tế như: Hiệp định TRIPS (các Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ), đồng thời tiếp tục được nâng chuẩn thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như: Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái bình dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)...

Mức độ hội nhập quốc tế của Việt Nam về sở hữu trí tuệ được đo lường thông qua mức độ tham gia và thực thi các điều ước quốc tế và Hiệp định thương mại tự do (FTA) có tiêu chuẩn cao về sở hữu trí tuệ; Mức độ tham gia vào các cơ chế hợp tác đa phương như: WIPO, WTO, ASEAN, APEC... từng bước hài hòa hóa hệ thống và nâng cao năng lực vận hành; Số lượng và chất lượng các chương trình hợp tác kỹ thuật, chia sẻ dữ liệu, đào tạo và nâng cao năng lực; khả năng của doanh nghiệp trong việc sử dụng các hệ thống quốc tế để bảo hộ và khai thác tài sản trí tuệ ở nước ngoài. Nếu nhìn theo nhóm chỉ số về mức độ hội nhập thì Việt Nam có cải thiện nhanh về tốc độ và nâng cấp hệ thống qua việc liên tục hoàn thiện pháp luật, chuyển đổi số và rút ngắn thời gian xử lý. Bên cạnh đó, mức độ tham gia của chủ thể tăng lên trong các lĩnh vực như nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp. Đồng thời, mức độ hội nhập thể chế sâu và toàn diện với việc tham gia nhiều hiệp định thương mại thế hệ mới và thiết lập mạng lưới hợp tác quốc tế rộng khắp, từ WIPO đến các cơ quan sở hữu trí tuệ lớn trên thế giới.

* Chuyển hóa tài sản trí tuệ thành giá trị kinh tế

Theo Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ Nguyễn Hoàng Giang, đằng sau những chuyển biến về số lượng và tốc độ, bài toán cốt lõi vẫn là nâng cao chất lượng và khả năng chuyển hóa tài sản trí tuệ thành giá trị kinh tế, đây là yếu tố then chốt khẳng định vị thế của Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Tiêu chí phản ánh rõ nhất vị thế sở hữu trí tuệ của một quốc gia không phải là số lượng đơn hay thứ hạng quốc tế mà là khả năng chuyển hóa tài sản trí tuệ thành công cụ tạo ra giá trị kinh tế. Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 đã cho thấy một bước chuyển quan trọng từ tư duy bảo hộ quyền sang khai thác và thương mại hóa quyền như một loại tài sản có giá trị kinh tế. Cải cách thể chế là những bước đi nhằm đưa sở hữu trí tuệ vào dòng chảy của thị trường và vốn, tạo giá trị kinh tế. Việt Nam đã đi qua giai đoạn xây dựng hệ thống để hội nhập, đang vận hành hệ thống để cạnh tranh và bắt đầu bước vào một giai đoạn khó hơn nhiều nơi sở hữu trí tuệ không chỉ được bảo hộ, mà phải thực sự tạo ra giá trị kinh tế.

Trong giai đoạn tới, giá trị của hợp tác sẽ không nằm ở số lượng chương trình, mà ở mức độ gắn kết với nhu cầu thực tế: đào tạo nhân lực, cải thiện chất lượng thẩm định, và quan trọng nhất là giúp doanh nghiệp Việt Nam sử dụng sở hữu trí tuệ như một công cụ tạo ra giá trị.

Thời gian tới, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ tập trung vào mục tiêu xuyên suốt là hoàn thiện thể chế và cơ chế chính sách góp phần nâng cao chất lượng và độ tin cậy của hệ thống sở hữu trí tuệ theo hướng tiệm cận chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Đồng thời, đẩy mạnh chuyển đổi số và hiện đại hóa toàn diện hoạt động quản lý, từ tiếp nhận đơn, tra cứu, công bố và thẩm định kể cả các lĩnh vực công nghệ mới và đối trượng sở hữu trí tuệ phi truyền thống để nâng cao hiệu quả xử lý đơn đăng ký xác lập quyền cũng như tăng khả năng kết nối với các hệ thống quốc tế, đặc biệt trong khuôn khổ các nền tảng do WIPO điều phối.

Các chuyên gia cho rằng, hệ thống sở hữu trí tuệ cần gắn chặt hơn với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thông qua việc cung cấp có hiệu quả dữ liệu sở hữu công nghiệp, thông tin về xu hướng công nghệ, cũng như các cơ chế hỗ trợ xác lập và quản trị quyền, để doanh nghiệp chủ động trong hoạt động nghiên cứu, phát triển và kinh doanh, chuyển từ tư duy “đăng ký để bảo vệ” sang quản trị tài sản trí tuệ một cách chiến lược để tạo ra giá trị kinh tế./.

Phạm Thị Thu Hà

Tin liên quan

Xem thêm