Trong thời đại số, công nghệ đang từng bước tham gia vào nghệ thuật biểu diễn, từ quá trình hình thành ý tưởng, xây dựng kịch bản, dàn dựng, tổ chức biểu diễn đến phân phối sản phẩm tới công chúng...
Công nghệ góp phần mở rộng khả năng sáng tạo, đổi mới trải nghiệm thưởng thức và tạo thêm cơ hội phát triển thị trường cho nghệ thuật biểu diễn.
Trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng Kết luận số 18-KL/TW về mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số”, ứng dụng công nghệ trong nghệ thuật biểu diễn không chỉ là yêu cầu đổi mới sân khấu, mà còn góp phần khai thác nguồn lực văn hóa, thúc đẩy công nghiệp văn hóa phát triển.
* Công nghệ mở rộng khả năng sáng tạo
Chương trình “Kỳ yến - Bữa tiệc diệu kỳ” do Liên đoàn Xiếc Việt Nam thực hiện, kết hợp giữa kỹ năng xiếc, âm nhạc, công nghệ trình chiếu 3D mapping và nghệ thuật ẩm thực, mở ra cách tiếp cận mới trong tổ chức và thưởng thức nghệ thuật. Ở đó, xiếc giữ vai trò trung tâm, công nghệ mở rộng không gian biểu đạt, còn ẩm thực trở thành một thành tố của trải nghiệm tổng thể. Chương trình được kỳ vọng trở thành sản phẩm công nghiệp văn hóa có sức hấp dẫn, kết hợp giá trị nghệ thuật với trải nghiệm văn hóa, giải trí, đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng
Trước đó, Liên đoàn Xiếc Việt Nam cũng ra mắt vở kịch xiếc “Sơn Thần - Thủy Quái”, lấy cảm hứng từ truyền thuyết “Sơn Tinh - Thủy Tinh”. Trong vở diễn này, lần đầu tiên, đơn vị đưa công nghệ 3D Mapping kết hợp sân khấu nước vào dàn dựng, mở ra không gian biểu diễn giàu tính thị giác. Núi rừng, sông nước và cuộc giao tranh giữa Sơn Tinh, Thủy Tinh được tái hiện sinh động bằng ngôn ngữ sân khấu hiện đại… Đến nay, hầu hết các suất diễn đều kín chỗ, nhiều khán giả sẵn sàng trở lại rạp để thưởng thức vở diễn nhiều lần, cho thấy sức hấp dẫn của một chương trình xiếc được đầu tư cả về kỹ thuật biểu diễn, công nghệ và câu chuyện.
Ứng dụng công nghệ được sử dụng trong các chương trình nghệ thuật thực cảnh như “Tinh hoa Bắc Bộ”, “Ký ức Hội An”… đã cho thấy khả năng kết hợp nghệ thuật với công nghệ và không gian văn hóa, tạo nên những sản phẩm có sức hấp dẫn đối với khách du lịch. Trong không gian trình diễn, cảnh quan, âm thanh, ánh sáng, công nghệ hình ảnh cùng tham gia kể chuyện, đưa những giá trị văn hóa truyền thống đến gần hơn với công chúng, đồng thời tạo thêm sức hút cho điểm đến du lịch.
Trong "Tinh hoa Bắc Bộ", một sân khấu thực cảnh trên mặt nước tái hiện chân thật những lát cắt đời sống Bắc Bộ: từ câu chuyện dân gian, sinh hoạt thường nhật, đến những tín ngưỡng đậm đà bản sắc, tất cả được kể bằng công nghệ ánh sáng - âm thanh hiện đại, nhưng vẫn giữ nguyên nét mộc mạc, truyền thống vốn có, đưa du khách vào không gian của làng quê Việt với những hoạt động đầy thú vị như các trò chơi dân gian, thưởng thức những bữa cơm tràn đầy hương vị quê...
Hay như show thực cảnh “Ký ức Hội An”, tái hiện hơn 400 năm lịch sử của phố cổ Hội An bằng âm thanh, ánh sáng và nghệ thuật đỉnh cao, đưa khán giả trở về với lịch sử, văn hóa của phố Hội hàng trăm năm trước, qua những lát cắt về đời sống làng quê, nghề dệt vải, những câu chuyện tình đậm chất xứ Quảng cùng với không khí giao thương nhộn nhịp tại thương cảng Hội An...
Nhìn từ những chương trình nghệ thuật, những vở diễn sân khấu hay show diễn thực cảnh, có thể thấy công nghệ không chỉ làm nhiệm vụ trang trí sân khấu, mà được kết hợp chặt chẽ với nội dung nghệ thuật và không gian văn hóa, góp phần tạo nên trải nghiệm riêng, giúp những câu chuyện về phong tục, đời sống và truyền thống được thể hiện bằng ngôn ngữ phù hợp hơn với nhu cầu thưởng thức hiện đại.
Theo Nghệ sĩ Nhân dân Tống Toàn Thắng, Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam, ứng dụng công nghệ số trước hết đòi hỏi sự thay đổi tư duy của người đứng đầu, đạo diễn và toàn bộ ê-kíp sáng tạo. Công nghệ cần được tính đến ngay từ khi hình thành ý tưởng, xây dựng kịch bản, thay vì đợi tác phẩm hoàn thiện rồi mới tìm cách bổ sung hình ảnh.
Từ kinh nghiệm dàn dựng tại Liên đoàn Xiếc Việt Nam, Nghệ sĩ Nhân dân Tống Toàn Thắng cho rằng, nếu chỉ sử dụng công nghệ để làm sân khấu đẹp hơn thì chưa khai thác hết tiềm năng của phương tiện này. Hình ảnh cần tham gia vào tình huống, diễn biến câu chuyện, góp phần tạo dựng không gian và hỗ trợ nghệ sĩ thể hiện cảm xúc. Muốn đạt được hiệu quả đó, đạo diễn nghệ thuật, đạo diễn hình ảnh, chuyên gia công nghệ, âm nhạc và biên đạo phải cùng tham gia sáng tạo ngay từ đầu.
* Mở rộng dư địa phát triển công nghiệp văn hóa
Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Tiến Dũng, Giám đốc Nhà hát Múa rối Việt Nam, cho rằng ứng dụng công nghệ số trong nghệ thuật biểu diễn là xu hướng tất yếu, mở ra cơ hội đổi mới phương thức sáng tạo, dàn dựng và tiếp cận khán giả. Tuy nhiên, để công nghệ phát huy hiệu quả, cần xuất phát từ điều kiện thực tế của từng nhà hát, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, đối tượng khán giả và đặc thù của mỗi loại hình nghệ thuật.
Theo Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Tiến Dũng, ứng dụng công nghệ số trong nghệ thuật biểu diễn cần được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa đổi mới và bảo tồn bản sắc. Khi có điều kiện đầu tư đồng bộ, nhân lực đáp ứng yêu cầu và phương thức hợp tác phù hợp, công nghệ sẽ góp phần làm cho các giá trị nghệ thuật được thể hiện sinh động, hấp dẫn hơn, mở rộng khả năng tiếp cận công chúng, tạo thêm điều kiện để các nhà hát tham gia phát triển công nghiệp văn hóa.
Từ góc độ doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ, ông Lê Anh Dũng, Giám đốc Trung tâm hạ tầng số VTC (Tổng Công ty VTC) cho rằng công nghệ là công cụ hỗ trợ, là chất xúc tác giúp nghệ sĩ thăng hoa, tăng sức hấp dẫn của chương trình. Ứng dụng công nghệ số trong nghệ thuật biểu diễn còn góp phần tạo nên những sản phẩm có chất lượng, đậm bản sắc văn hóa Việt Nam, mang lại trải nghiệm phong phú hơn cho khán giả. Công nghệ cũng góp phần đưa tác phẩm đến công chúng thuận tiện hơn thông qua việc phân phối vé trực tuyến, khán giả có thể chủ động mua vé, lựa chọn chỗ ngồi, giảm bớt việc phải đến mua trực tiếp...
Bà Vũ Ngọc Trinh, Phó Cục trưởng Cục Thông tin điện tử và Chuyển đổi số (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho rằng, ứng dụng công nghệ số trong nghệ thuật biểu diễn không chỉ dừng lại ở đổi mới phương thức dàn dựng, nâng cao chất lượng tác phẩm hay quảng bá, thu hút khán giả, mà còn cần gắn với nhiệm vụ số hóa, lưu giữ và phát huy giá trị nghệ thuật lâu dài. Các nhà hát đang nắm giữ nguồn tài nguyên văn hóa quý giá như: tác phẩm, hình ảnh, bản ghi biểu diễn, hiện vật và tư liệu về quá trình sáng tạo của nghệ sĩ. Vì vậy, các đơn vị cần chủ động đưa nhiệm vụ số hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu vào kế hoạch hoạt động, vừa phục vụ công tác quản lý, bảo tồn vừa khai thác, phát huy giá trị.
Chẳng hạn, mỗi con rối đều có nguồn gốc, câu chuyện riêng. Bên cạnh việc bảo quản hiện vật, nhà hát có thể số hóa bằng hình ảnh, mô hình 3D và các hình thức phù hợp để lưu giữ, giới thiệu đến công chúng. Đối với tác phẩm biểu diễn, việc ghi hình toàn bộ hoặc lựa chọn những trích đoạn phù hợp để giới thiệu trên môi trường số sẽ giúp mở rộng khả năng tiếp cận công chúng, nhất là người Việt Nam ở nước ngoài, khán giả quốc tế và những người không có điều kiện đến nhà hát trực tiếp. Ở mỗi loại hình nghệ thuật khác nhau (múa rối, xiếc, tuồng, chèo, cải lương…) đều có đặc thù riêng, đòi hỏi phương thức số hóa và khai thác phù hợp.
Bà Vũ Ngọc Trinh cũng lưu ý, khi đưa nội dung lên môi trường số, các đơn vị phải quan tâm đến bản quyền và an toàn thông tin, hạn chế nguy cơ sao chép hoặc khai thác trái phép. Trong hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, các nhà hát cũng cần chủ động cung cấp nội dung, chất liệu và yêu cầu nghệ thuật để bảo đảm sản phẩm số phản ánh đúng bản sắc văn hóa Việt Nam.
Nghệ thuật biểu diễn đã được Nhà nước xác định là một trong 10 ngành công nghiệp văn hóa. Điều này cho thấy vai trò và vị thế quan trọng của nghệ thuật biểu diễn trong sự phát triển của đất nước. Khi được đầu tư đúng hướng, lĩnh vực này không chỉ tạo ra giá trị tinh thần mà còn có khả năng đóng góp vào hoạt động du lịch, dịch vụ, việc làm và tăng trưởng kinh tế.
Giám đốc Liên đoàn Xiếc Việt Nam - Nghệ sĩ Nhân dân Tống Toàn Thắng cho biết từ khi ra mắt đến nay, các suất diễn của vở kịch xiếc “Sơn Thần - Thủy Quái” thu hút đông đảo người xem. Sân khấu tròn Rạp Xiếc Trung ương với hơn 1.000 chỗ ngồi luôn kín khán giả. Điều này cho thấy, công nghệ đang mở ra không gian sáng tạo, thúc đẩy các ngành công nghiệp văn hóa phát triển, góp phần vào tăng trưởng kinh tế.
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra định hướng quan trọng trong việc phát huy vai trò của công nghệ đối với phát triển đất nước. Với nghệ thuật biểu diễn, tinh thần của nghị quyết cần được cụ thể hóa bằng những đổi mới thực chất trong sáng tạo, tổ chức sản xuất, quản lý và phân phối sản phẩm, thay vì chỉ dừng ở việc ứng dụng một số thiết bị hiện đại.
Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam đã định hướng: “Chủ động thích ứng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong phát triển văn hóa”. Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đề ra yêu cầu: “Phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam dựa trên ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số”…
Trong tiến trình thực hiện các nghị quyết của Đảng, Nhà nước, ứng dụng công nghệ trong nghệ thuật biểu diễn cần được nhìn nhận như một phần của quá trình đổi mới sáng tạo, khai thác hiệu quả nguồn lực văn hóa và phát triển các động lực tăng trưởng mới. Khi công nghệ phục vụ sáng tạo, bản sắc văn hóa tạo nên giá trị khác biệt và sản phẩm nghệ thuật được kết nối với thị trường, nghệ thuật biểu diễn sẽ có thêm điều kiện phát triển bền vững, đóng góp thiết thực vào sự phát triển công nghiệp văn hóa và mục tiêu tăng trưởng “2 con số” như Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra./.



