Cảnh quan, nông nghiệp, văn hóa bản địa và đời sống cộng đồng đang được chuyển hóa thành sản phẩm du lịch, giúp người dân có thêm việc làm, tăng thu nhập và nhận ra giá trị của quê hương.
Quảng Trị có lợi thế đa dạng về cảnh quan, hệ sinh thái, nông sản và văn hóa bản địa, từ những cánh đồng vùng đồng bằng, làng biển đến những đồi cà phê, bản làng dưới chân Trường Sơn. Những giá trị ấy đang được nhiều địa phương từng bước chuyển hóa thành sản phẩm du lịch, tạo thêm sinh kế cho người dân và nâng cao giá trị nông sản.
Từ những mô hình thực tế, chùm bài "Quảng Trị: Đánh thức 'mỏ vàng xanh' từ nông nghiệp” ghi nhận hành trình kết nối nông nghiệp với du lịch, văn hóa và dịch vụ, qua đó mở ra hướng phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị, xanh và bền vững.
Bài 1: Khi làng quê trở thành điểm đến du lịch
Từng được biết đến là những vùng quê nghèo, nơi người dân quanh năm vật lộn với thiên tai, phụ thuộc vào ruộng đồng hoặc những chuyến đi rừng, thì nay nhiều miền quê ở Quảng Trị đang tìm thấy hướng sinh kế mới. Cảnh quan, nông nghiệp, văn hóa bản địa và đời sống cộng đồng đang được chuyển hóa thành sản phẩm du lịch, giúp người dân có thêm việc làm, tăng thu nhập và nhận ra giá trị của quê hương.
Từ “rốn lũ” thành điểm du lịch độc đáo
Sáng cuối hè, dòng Rào Nan ở xã Kim Phú phẳng lặng như mặt gương. Những dãy núi đá vôi bao quanh thung lũng Tân Hóa in bóng xuống làn nước. Tiếng mái chèo khua nhẹ, tiếng cười của những vị khách nước ngoài vang lên giữa không gian trong trẻo. Khó ai hình dung nơi bình yên ấy từng được biết đến như một “rốn lũ” của miền Trung.
Hơn một thập kỷ trước, mỗi mùa mưa về, nước từ bốn bề dồn xuống, nhấn chìm nhà cửa, ruộng vườn, cuốn theo tài sản mà người dân phải chắt chiu nhiều năm mới có được. Nghe tin lũ, người dân lại tất tả đưa người già, trẻ nhỏ lên núi đá tránh trú, chờ nước rút mới trở về. Nhưng Tân Hóa hôm nay đã khác. Những căn nhà phao với hệ thống thùng nổi bên dưới giúp người dân chủ động ứng phó khi nước dâng. Điều bất ngờ là những gì từng gắn với nỗi lo thiên tai nay trở thành một phần sức hút của điểm đến.
Đứng trước căn nhà từng được thiết kế để vượt lũ, nay trở thành homestay đón khách, anh Trần Ngọc Danh nhớ lại những mùa nước dữ: “Ngày trước, nhìn nước lũ dâng là chỉ biết âu lo. Lo trôi nhà, mất mùa, rồi lo không biết ngày mai lấy gì nuôi con. Còn bây giờ, khi mùa khô đến, chúng tôi lại mong có thêm nhiều đoàn khách về làng”. Gia đình anh Danh là một trong những hộ đầu tiên tham gia du lịch cộng đồng. Từ ngôi nhà chỉ để ở, gia đình cải tạo thành homestay, học cách phục vụ du khách, giao tiếp bằng tiếng Anh và kể những câu chuyện về vùng đất mình sinh ra. Những chiếc thuyền từng dùng để ứng phó với lũ trở thành phương tiện đưa du khách khám phá thung lũng.
Đằng sau những căn nhà chống lũ còn là câu chuyện về sinh kế. Có thời gian, vợ chồng chị Trần Thị Hiệp phải rời quê vào các tỉnh phía Nam làm thuê, để con nhỏ lại cho ông bà chăm sóc. Khi du lịch cộng đồng phát triển, vợ chồng chị quyết định trở về, cải tạo nhà cửa, phục vụ lưu trú, nấu những bữa cơm quê và hướng dẫn du khách trải nghiệm cuộc sống địa phương. “Thu nhập bây giờ ổn định hơn nhiều, quan trọng nhất là cả gia đình được ở bên nhau, được ở bên các con, được sinh sống, làm ăn ngay trên mảnh đất mình sinh ra thì còn gì bằng”, chị Hiệp chia sẻ.
Ông Hoàng Thanh Bình, Phó Chủ tịch UBND xã Kim Phú cho biết, nếu trước đây người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi và phụ thuộc nhiều vào thời tiết thì nay ngày càng có nhiều người tham gia vào chuỗi giá trị du lịch, từ vận chuyển khách, phục vụ lưu trú, chế biến ẩm thực đến cung cấp sản phẩm địa phương và hướng dẫn trải nghiệm.
Năm 2023, Tân Hóa được vinh danh là một trong những “Làng du lịch tốt nhất thế giới”. Năm 2024 và 2025, mỗi năm địa phương đón hơn 11.000 lượt khách, khoảng 80% là khách quốc tế. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ khoảng 4,8 triệu đồng/năm năm 2014 lên 36-42 triệu đồng năm 2024 và 42-45 triệu đồng năm 2025. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, từ 85,7% năm 2010 xuống còn 2,6% năm 2024. Những con số ấy cho thấy du lịch không chỉ đưa khách đến Tân Hóa mà đang từng bước tạo thêm việc làm, mở rộng sinh kế và thay đổi đời sống của người dân ngay trên quê hương mình.
Theo ông Nguyễn Châu Á, Tổng Giám đốc Oxalis Adventure, lũ lụt là một phần của tự nhiên không thể tránh khỏi ở Tân Hóa. Thay vì né tránh, địa phương và doanh nghiệp lựa chọn xây dựng sản phẩm du lịch dựa trên chính cách người dân sống và thích nghi với điều kiện tự nhiên. Oxalis đồng hành xây dựng sản phẩm, đào tạo nhân lực, kết nối thị trường và hỗ trợ cộng đồng. Hiện khoảng 130 người dân địa phương có việc làm từ du lịch với nhiều vị trí như porter (người phục vụ), đầu bếp, trợ lý an toàn, hướng dẫn viên, nhân viên tại Tú Làn Lodge và chủ homestay. Doanh nghiệp cũng ưu tiên sử dụng thực phẩm, sản phẩm và dịch vụ của các hộ dân địa phương, giúp nguồn thu từ du lịch quay trở lại cộng đồng. Thông qua chương trình Thử thách Tú Làn, doanh nghiệp còn hỗ trợ và kêu gọi tài trợ xây dựng nhà nổi cho người dân. Đến nay, hơn 700 căn nhà nổi đã được xây dựng, giúp gần như 100% hộ dân chủ động ứng phó với mùa lũ.
Từ chỗ là nỗi ám ảnh, mùa lũ nay trở thành một phần câu chuyện của Tân Hóa. Những căn nhà nổi, dòng Rào Nan và cách người dân thích nghi với thiên nhiên đã tạo nên một sản phẩm du lịch khác biệt. Từ “rốn lũ” đến “Làng du lịch tốt nhất thế giới”, Tân Hóa đang cho thấy một hướng đi đáng chú ý: Không quay lưng với thiên nhiên mà học cách sống cùng thiên nhiên, biến khả năng thích ứng thành giá trị và tạo thêm sinh kế bền vững cho cộng đồng.
Giữ rừng để giữ sinh kế
Nếu Tân Hóa biến thiên tai thành một phần của sản phẩm du lịch thì ở phía Tây Quảng Trị, người Bru - Vân Kiều tại bản Rum Ho, xã Kim Ngân lại đang viết câu chuyện về biến rừng từ nơi mưu sinh bằng khai thác thành nguồn sinh kế nhờ bảo tồn.
Nằm lọt thỏm dưới những tán rừng của Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, cuộc sống của hơn 100 hộ dân Rum Ho trước đây phụ thuộc nhiều vào những chuyến đi rừng và công việc làm thuê bấp bênh. Gia đình chị Hồ Thị Son cũng từng sống như vậy, khi vào rừng tìm măng, hái lá thuốc, lấy lâm sản phụ hoặc đi làm thuê. Khi người dân Rum Ho cùng các bản Mít Cát, Trung Đoàn được tập huấn làm du lịch cộng đồng với sự hỗ trợ của Tổ chức Helvetas Việt Nam, cuộc sống bắt đầu có thêm hướng đi mới. Người dân học cách làm homestay, đón khách, chế biến món ăn truyền thống, tổ chức trải nghiệm văn hóa và kể câu chuyện về núi rừng Trường Sơn. Gia đình chị Son sửa sang nhà sàn, chuẩn bị cơm lam, gà nướng, cá suối, rau rừng. Những hoạt động vốn bình thường như ngâm chân bằng thảo dược, bắt cá suối, giã bánh hay đi rừng trở thành trải nghiệm đối với du khách nhưng điều chị Son trân trọng hơn cả không chỉ là thu nhập.
“Ngày trước mình vào rừng để lấy cái rừng có. Giờ mình giữ rừng thì khách mới đến. Rừng còn thì bà con dân bản còn việc làm”, chị nói. Từ đó, một cách nghĩ mới dần hình thành: Rừng có thể tạo sinh kế không chỉ bằng khai thác mà cả bằng bảo tồn. Mỗi cây cổ thụ, dòng suối, cảnh quan và nét văn hóa được gìn giữ đều trở thành một phần giá trị của điểm đến.
Câu chuyện ấy được nối dài ở Chênh Vênh, xã Hướng Phùng, nơi văn hóa Bru - Vân Kiều đang trở thành một phần quan trọng của sản phẩm du lịch cộng đồng giữa đại ngàn Trường Sơn. Những năm gần đây, nhiều hộ đồng bào Bru - Vân Kiều cải tạo nhà sàn thành homestay, xây dựng các hoạt động trải nghiệm gắn với cảnh quan, nông nghiệp và đời sống bản địa. Làng du lịch sinh thái Chênh Vênh được triển khai từ năm 2022, trở thành mô hình du lịch cộng đồng đầu tiên của địa phương. Gia đình chị Hồ Thị Thắng và anh Hồ Văn Quý là những hộ đầu tiên tham gia. Các gia đình cùng sửa sang nhà sàn, chuẩn bị hoạt động câu cá, thu hoạch nông sản, giới thiệu ẩm thực và nghề truyền thống. “Khách đến đây thích nhất là được ở trong nhà sàn, đi rừng, ăn món ăn của người bản địa và nghe kể chuyện về cuộc sống của người Vân Kiều”, chị Thắng chia sẻ.
Theo ông Phan Ngọc Long, Phó Chủ tịch UBND xã Hướng Phùng, những ngôi nhà sàn, tiếng cồng chiêng, các lễ mừng lúa mới, lễ cúng trời, nghề dệt, ẩm thực và phong tục truyền thống của người Bru - Vân Kiều đang được phục dựng, trao truyền và đưa vào hoạt động trải nghiệm. Những món ăn như xôi nếp rẫy, gà nướng, thịt lợn bản, măng rừng, rau rừng không chỉ là bữa cơm hằng ngày mà còn trở thành chiếc cầu nối để du khách hiểu hơn về văn hóa của cộng đồng đã bao đời gắn bó với đại ngàn.
Từ một bản làng nằm sâu giữa đèo Sa Mù, Chênh Vênh đang dần trở thành điểm dừng chân trên tuyến du lịch phía Tây Quảng Trị, kết nối với sân bay Tà Cơn, thác Tà Puồng và cung đường Hồ Chí Minh nhánh Tây. Ở nơi mây phủ gần như quanh năm ấy, một căn nhà sàn, một món ăn, một điệu cồng chiêng hay câu chuyện về rừng đang được trao đời sống mới, trở thành sản phẩm du lịch, tạo sinh kế và góp phần gìn giữ bản sắc cộng đồng.
Người dân là chủ thể
Điểm chung ở Tân Hóa, Rum Ho và Chênh Vênh là người dân không đứng ngoài hoạt động du lịch mà trực tiếp tham gia, tạo sản phẩm và hưởng lợi từ những giá trị của quê hương.
Ông Hồ Văn Hoan, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Trị cho rằng, hiệu quả lớn nhất của du lịch cộng đồng không chỉ nằm ở lượng khách hay doanh thu, mà ở sự thay đổi trong tư duy phát triển. Từ chỗ chủ yếu sản xuất nông nghiệp hoặc khai thác tài nguyên, người dân từng bước trở thành chủ thể tạo sản phẩm, cung ứng dịch vụ và hưởng lợi từ du lịch.
Theo ông Hoan, tỉnh đang xây dựng các sản phẩm có chiều sâu, dựa trên lợi thế từng vùng: Hướng Hóa phát triển du lịch cà phê gắn với trải nghiệm nông nghiệp, văn hóa Bru - Vân Kiều, Pa Kô và núi rừng Trường Sơn; đồng bằng khai thác du lịch làng quê, làng nghề, mùa vụ; vùng ven biển kết nối du lịch biển với nghề cá, văn hóa làng chài và sản phẩm OCOP. Cùng với đó, đào tạo nhân lực tại chỗ, nhất là ngoại ngữ, nghiệp vụ du lịch và kỹ năng quản lý dịch vụ, là điều kiện quan trọng để người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, có thể tìm thấy cơ hội việc làm ngay trên quê hương.
Ở góc độ nông nghiệp, ông Trần Đình Hiệp, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Quảng Trị cho rằng, nhiều địa phương đang chuyển từ tư duy sản xuất đơn thuần sang phát triển chuỗi giá trị. Một sản phẩm nông nghiệp không chỉ tạo thu nhập từ sản xuất mà còn có thể gia tăng giá trị thông qua chế biến, quảng bá, trải nghiệm và tiêu dùng tại chỗ. “Đó chính là điểm gặp nhau giữa nông nghiệp và du lịch”, ông Hiệp nhận định.
Một cánh đồng không chỉ cho ra hạt lúa, một khu rừng không chỉ cung cấp lâm sản, một bản làng không chỉ là nơi sinh sống. Khi được tổ chức thành những sản phẩm trải nghiệm phù hợp, những giá trị ấy có thể tạo thêm việc làm, thu nhập và động lực để người dân bảo vệ chính tài nguyên của mình. Tuy nhiên, phát triển du lịch không đồng nghĩa với bê tông hóa làng quê hay biến những điểm đến thành những không gian na ná nhau. Với Tân Hóa, cảnh quan tự nhiên và khả năng thích ứng với mùa lũ là giá trị riêng; ở Rum Ho và Chênh Vênh, rừng nguyên sinh, văn hóa và bản sắc cộng đồng lại là nền tảng tạo sức hấp dẫn riêng.
Những câu chuyện ấy cho thấy, điểm đến chỉ thực sự có sức sống khi cộng đồng địa phương là người tạo ra và kể câu chuyện về chính nơi mình sinh sống. Nhưng để câu chuyện ấy đi xa hơn, cảnh quan, văn hóa và trải nghiệm thôi chưa đủ. Đằng sau một chuyến đi còn cần những sản phẩm cụ thể để du khách thưởng thức, sử dụng, mua và mang theo. Khi ấy, những hạt cà phê, hạt gạo, hạt tiêu, chai nước mắm và sản vật của núi rừng bắt đầu bước vào câu chuyện du lịch theo một cách khác./. (còn nữa)
Bài 2: Nâng giá trị nông sản bằng du lịch




