Hà Nội tăng cường lấy mẫu, kiểm nghiệm sản phẩm trồng trọt nhằm phát hiện nguy cơ tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất, kim loại nặng và ô nhiễm sinh học.
Hoạt động giám sát được triển khai từ vùng sản xuất đến chợ, cơ sở sơ chế, kinh doanh, đồng thời gắn kết quả kiểm nghiệm với truy xuất nguồn gốc và xử lý sản phẩm không bảo đảm an toàn thực phẩm.
*Kiểm tra theo nguy cơ, không chỉ ở nơi tiêu thụ
Đối với một thị trường tiêu thụ thực phẩm lớn như Hà Nội, bảo đảm an toàn rau, củ, quả không thể chỉ dựa vào kiểm tra hàng hóa khi đã được đưa ra chợ hoặc lên quầy bán. Những nguy cơ liên quan đến dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất, kim loại nặng có thể xuất hiện từ quá trình sản xuất, trong khi việc xác định nguồn gốc và trách nhiệm xử lý cần sự phối hợp giữa nhiều khâu, nhiều địa phương.
Ngày 8/9/2026, UBND thành phố Hà Nội ban hành Kế hoạch số 348/KH-UBND về tăng cường kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm đối với sản phẩm trồng trọt. Kế hoạch xác định mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm sinh học, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất và kim loại nặng trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm có nguồn gốc thực vật, phục vụ người tiêu dùng trong nước và đáp ứng yêu cầu đối với hàng xuất khẩu.
Đợt triển khai trọng tâm được xác định từ tháng 8 đến tháng 12/2026, sau đó tiếp tục thực hiện thường xuyên hằng năm theo kế hoạch bảo đảm an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản. Phạm vi thực hiện trên toàn thành phố, bao gồm các vùng sản xuất tập trung, cơ sở sản xuất, sơ chế, chế biến và kinh doanh sản phẩm trồng trọt.
Điểm đáng chú ý là phương pháp giám sát không dàn đều cho mọi loại hàng hóa. Thành phố yêu cầu lựa chọn sản phẩm, chỉ tiêu kiểm nghiệm trên cơ sở nguy cơ thực tế, kết quả kiểm tra trước đó, phản ánh của người tiêu dùng và cảnh báo của cơ quan có thẩm quyền. Những sản phẩm từng có chỉ tiêu vi phạm, liên quan đến sự cố ngộ độc thực phẩm hoặc bị cảnh báo từ thị trường nhập khẩu thuộc nhóm cần quan tâm.
Nhóm sản phẩm được giám sát gồm rau, củ, trái cây, chè, gạo, các loại hạt, ngũ cốc và thực phẩm có nguồn gốc thực vật khác. Địa điểm lấy mẫu không chỉ tại vùng sản xuất tập trung mà còn ở chợ đầu mối, chợ dân sinh, cơ sở sơ chế, chế biến và kinh doanh. Cách tổ chức này cho phép cơ quan quản lý xem xét nguy cơ ở nhiều công đoạn của chuỗi cung ứng.
Theo kế hoạch, mẫu được lấy ngẫu nhiên để kiểm nghiệm, đánh giá sự phù hợp với các giới hạn cho phép và quy định kỹ thuật tương ứng. Chỉ tiêu kiểm tra được lựa chọn theo từng nhóm sản phẩm, không có nghĩa mọi mẫu đều được xét nghiệm toàn bộ các nhóm hóa chất hoặc kim loại nặng. Kết quả kiểm nghiệm là căn cứ quan trọng để cảnh báo, truy xuất và tổ chức biện pháp xử lý khi phát hiện vi phạm.
Việc tăng cường lấy mẫu có ý nghĩa khác với công bố kết quả kiểm tra. Kế hoạch 348/KH-UBND quy định nhiệm vụ, phạm vi và phương thức giám sát; văn bản không cung cấp số liệu tổng kết số mẫu đã kiểm nghiệm hoặc tỷ lệ mẫu vi phạm trong đợt cao điểm. Do đó, chưa thể từ kế hoạch này kết luận mức độ ô nhiễm thực tế của nông sản trên thị trường Hà Nội.
*Truy xuất sản phẩm vi phạm đến đúng nơi sản xuất
Một nội dung quan trọng trong kế hoạch là phân biệt cách xử lý đối với sản phẩm sản xuất tại Hà Nội và sản phẩm có nguồn gốc từ tỉnh, thành phố khác. Đây là yêu cầu phù hợp với đặc điểm thị trường Thủ đô, nơi hàng hóa được cung ứng từ nhiều vùng sản xuất.
Đối với mẫu vi phạm chỉ tiêu an toàn thực phẩm do Hà Nội sản xuất, cơ quan lấy mẫu thông báo cho cơ sở được lấy mẫu và đơn vị phối hợp, yêu cầu thực hiện truy xuất nguồn gốc theo quy định. Sở Nông nghiệp và Môi trường có thể tổ chức kiểm tra việc truy xuất, thu hồi và xử lý thực phẩm không bảo đảm an toàn khi cần thiết.
Với mẫu vi phạm có nguồn gốc từ địa phương khác, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội thông báo đến cơ quan quản lý của tỉnh, thành phố liên quan để tổ chức kiểm tra việc truy xuất nguồn gốc. Như vậy, việc phát hiện hàng hóa vi phạm tại thị trường tiêu thụ phải gắn với xác định nơi sản xuất, thay vì chỉ dừng lại ở khâu kinh doanh cuối cùng.
Kế hoạch cũng yêu cầu tổng hợp, phân tích nguy cơ, điều tra nguyên nhân để đưa ra cảnh báo định kỳ hoặc đột xuất đối với nhóm sản phẩm và công đoạn chưa được kiểm soát tốt. Thông tin cảnh báo được gửi tới cơ quan quản lý chuyên ngành của địa phương, các tỉnh, thành phố và cơ quan quản lý nhập khẩu khi có liên quan.
Song song với lấy mẫu, hoạt động hậu kiểm tập trung vào điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, bao gồm cả những cơ sở thuộc diện không phải cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm theo quy định. Điều này nhằm bảo đảm yêu cầu quản lý không bị bỏ trống chỉ vì cơ sở thuộc nhóm được miễn thủ tục cấp giấy chứng nhận.
Tại các vùng sản xuất, thành phố yêu cầu rà soát sản phẩm chủ lực, vùng nguyên liệu và các chuỗi liên kết với doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở chế biến. Đối với vùng đã có mã số vùng trồng, thông tin về phạm vi sản xuất, chủ thể quản lý, sản phẩm và kết quả giám sát cần được chuẩn hóa, cập nhật để phục vụ truy xuất khi phát hiện nguy cơ.
*Phân rõ trách nhiệm từng ngành, địa phương
UBND thành phố giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì triển khai kế hoạch, tổ chức kiểm tra, giám sát, đánh giá nguy cơ trong chuỗi sản xuất, sơ chế, chế biến và kinh doanh nông sản trồng trọt. Cơ quan này đồng thời phối hợp với các địa phương trong hoạt động truy xuất nguồn gốc và xử lý sản phẩm không bảo đảm an toàn.
Sở Y tế tập trung kiểm soát, truy xuất nguồn gốc thực phẩm có nguồn gốc thực vật sử dụng tại bếp ăn tập thể, căng-tin trường học và cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống. Sở Công Thương kiểm tra sản phẩm trồng trọt tại siêu thị, hệ thống phân phối thuộc thẩm quyền, đồng thời kiểm soát hành vi vi phạm trong kinh doanh thực phẩm trên thị trường.
Công an thành phố tăng cường phát hiện, điều tra, xử lý các hành vi liên quan đến thực phẩm giả, kém chất lượng, nhập lậu và vi phạm nghiêm trọng về an toàn thực phẩm theo thẩm quyền. Chính quyền xã, phường có trách nhiệm rà soát cơ sở sản xuất, kinh doanh, tổ chức hậu kiểm và phối hợp xử lý sản phẩm vi phạm tại địa bàn.
Một yêu cầu khác là công khai thông tin về vùng trồng, cơ sở bảo đảm hoặc không bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định. Việc công bố cần dựa trên kết quả kiểm tra, giám sát có căn cứ, giúp người tiêu dùng nhận biết thông tin và cơ quan quản lý tập trung kiểm soát những nơi có nguy cơ.
Theo kế hoạch, các đơn vị lồng ghép báo cáo kết quả thực hiện vào báo cáo an toàn thực phẩm hằng tháng trước ngày 15 và gửi báo cáo tổng kết trước ngày 15/12/2026. Đây là cơ sở để theo dõi tiến độ, kết quả kiểm tra và việc xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình triển khai.
Tăng giám sát dư lượng hóa chất trong nông sản trồng trọt vì vậy không chỉ là mở rộng hoạt động lấy mẫu. Điều quan trọng là lựa chọn đúng sản phẩm có nguy cơ, kiểm nghiệm theo quy định, xác định nguồn gốc hàng hóa vi phạm và phối hợp xử lý đến nơi sản xuất. Khi những khâu này được thực hiện đồng bộ, công tác quản lý có thể chủ động phòng ngừa nguy cơ, góp phần bảo đảm an toàn thực phẩm cho người dân Thủ đô./.


