Khi nghệ sĩ, doanh nghiệp, cộng đồng và cơ quan quản lý cùng tham gia, các giá trị văn hóa có thể vừa được bảo tồn, vừa trở thành nguồn lực nâng cao chất lượng sống và sức cạnh tranh của đô thị.
Phát triển văn hóa, thể thao trong đô thị đòi hỏi sự phối hợp giữa quy hoạch, bảo tồn di sản, xây dựng thiết chế và phát triển công nghiệp văn hóa. Tại hội thảo khoa học về chủ đề này, các ý kiến cho rằng, bên cạnh hoàn thiện chính sách, cần có cơ chế đầu tư dài hạn, huy động hiệu quả nguồn lực xã hội và đặt người dân vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển.
Hội thảo do Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Vụ Pháp chế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức ngày 5/11. Hội thảo tập trung trao đổi về cơ chế, chính sách liên quan đến phát triển đô thị và công nghiệp văn hóa; thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh và các địa phương cùng những vấn đề về thiết chế, không gian văn hóa - thể thao, di sản, kinh tế sáng tạo, kinh tế ban đêm, kinh tế thể thao và nguồn nhân lực.
Theo Nghệ sĩ Ưu tú Lê Nguyên Đạt, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh Thành phố Hồ Chí Minh, thời gian gần đây, sân khấu truyền thống tại Thành phố được quan tâm và có thêm các chương trình, vở diễn do đơn vị công lập triển khai. Một số hoạt động bước đầu cho thấy hiệu quả trong việc đưa nghệ thuật đến gần công chúng. Tuy nhiên, đầu tư còn mang tính thời vụ, chưa hình thành kế hoạch đặt hàng dài hạn với số lượng sản phẩm, suất diễn và tiêu chí đánh giá cụ thể. Ông cho rằng cần duy trì đầu tư ổn định để các nhà hát có điều kiện xây dựng kế hoạch biểu diễn, đồng thời đo lường hiệu quả tiếp cận khán giả. Việc đào tạo khán giả trẻ cũng cần được chú trọng, giúp người trẻ hiểu, yêu thích và chủ động lan tỏa nghệ thuật truyền thống. Với sân khấu học đường, hoạt động biểu diễn cần gắn với giáo dục và sự tham gia của nhà trường, ngành văn hóa, cộng đồng, nhất là các trường trung học và đại học.
Ở góc độ di sản đô thị, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh kỳ vọng, các quy định về phát triển đô thị và công nghiệp văn hóa sẽ bổ trợ cho nhau, tạo cơ sở quản lý đồng bộ giữa quy hoạch, xây dựng và bảo tồn. Bà nhấn mạnh cư dân là nguồn lực quan trọng của di sản: Vừa sáng tạo, lưu giữ ký ức đô thị, vừa có quyền tham gia gìn giữ và phát huy giá trị văn hóa nơi mình sinh sống.
Để bảo tồn, theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Hậu, cần gắn với đời sống đương đại và phục vụ con người. Nếu di sản chỉ được gìn giữ như hiện vật tách khỏi sinh hoạt cộng đồng, việc bảo tồn khó duy trì lâu dài. Vì vậy, cần huy động đồng bộ nguồn lực quản lý nhà nước, kinh tế tư nhân và cộng đồng, dưới vai trò chủ đạo của Nhà nước.
Giám đốc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh Trần Thế Thuận cho rằng, công nghiệp văn hóa tại Thành phố đã hình thành từ lâu nhưng còn thiếu một hệ thống quy định đủ đồng bộ để tạo dựng hệ sinh thái phát triển. Doanh nghiệp thường phải cân nhắc rủi ro và thời gian thu hồi vốn; trong khi các sản phẩm văn hóa không chỉ tạo doanh thu mà còn góp phần bảo tồn di sản, bản sắc và bảo đảm quyền sáng tạo, quyền sở hữu trí tuệ.
Theo ông Trần Thế Thuận, Thành phố xác định điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, thời trang, xuất bản và trò chơi điện tử là những lĩnh vực có thế mạnh, đồng thời tiếp tục nghiên cứu, đầu tư các ngành còn lại. Định hướng phát triển đặt ra yêu cầu kết hợp công nghệ, chuyển đổi số với giá trị văn hóa bản địa; phát triển nguồn nhân lực thông qua hợp tác giữa trường đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý; mở rộng liên kết vùng, quốc tế, xây dựng thương hiệu sáng tạo.
Một số đề xuất tại hội thảo hướng đến việc ban hành nghị quyết chuyên đề về phát triển công nghiệp văn hóa; nghiên cứu cơ chế ưu đãi thuế, tín dụng; thành lập đầu mối điều phối và quỹ hỗ trợ các dự án sáng tạo; đồng thời xây dựng hệ thống chỉ số thống kê riêng để đánh giá lĩnh vực này.
Các ý kiến cũng cho rằng, cơ chế chính sách cần đi cùng nguồn lực, hạ tầng và kế hoạch thực hiện ổn định. Khi nghệ sĩ, doanh nghiệp, cộng đồng và cơ quan quản lý cùng tham gia, các giá trị văn hóa có thể vừa được bảo tồn, vừa trở thành nguồn lực nâng cao chất lượng sống và sức cạnh tranh của đô thị./.


