Chính sách và phát triển

Hoàn thiện quy định bảo đảm thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở

Nhiều ý kiến cũng cho rằng cần quy định cụ thể thời hạn giải quyết đối với những nội dung có sự tham gia, hỗ trợ của cơ quan nhà nước, tránh kéo dài hoặc làm chậm quá trình hòa giải của người dân.

Chiều 4/9, tại thành phố Đà Nẵng, Bộ Tư pháp tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp bảo đảm thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở.

Phát biểu khai mạc, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc cho biết, ngày 24/8/2026, Quốc hội khóa XVI đã thông qua Luật Hòa giải ở cơ sở số 16/2026/QH16, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027. Đây là văn bản pháp lý quan trọng, góp phần hoàn thiện thể chế về hòa giải ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn mới, đồng thời thể hiện định hướng nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc phát biểu
Ảnh: Bộ Tư pháp

Theo Thứ trưởng Nguyễn Thanh Ngọc, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật cần có hiệu lực cùng thời điểm Luật có hiệu lực nhằm bảo đảm tính khả thi và đáp ứng yêu cầu tổ chức thi hành pháp luật. Vì vậy, việc ban hành Nghị định quy định chi tiết và biện pháp bảo đảm thi hành Luật là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết.

Yêu cầu đặt ra là Nghị định phải bám sát Luật, quy định cụ thể, rõ ràng, khả thi, dễ thực hiện, phù hợp với điều kiện thực tế ở cơ sở; đồng thời tránh hành chính hóa hoạt động hòa giải ở cơ sở - một hình thức tự quản, tự nguyện của cộng đồng dân cư.

Phát biểu định hướng nội dung Hội thảo, Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Cù Thu Anh đề nghị các đại biểu tập trung góp ý những nội dung trọng tâm của dự thảo Nghị định nhằm cụ thể hóa đầy đủ các nội dung được Luật giao, bảo đảm tính đồng bộ, rõ ràng và khả thi, tạo thuận lợi cho địa phương trong quá trình tổ chức thi hành.

Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Cù Thu Anh phát biểu
Ảnh: Bộ Tư pháp

Theo ông Cù Thu Anh, việc ban hành Nghị định không chỉ góp phần đưa Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 đi vào cuộc sống, mà còn thể chế hóa chủ trương của Đảng về tăng cường các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, giữ vững an ninh, trật tự và xây dựng xã hội an toàn, văn minh, hài hòa.

Báo cáo tóm tắt dự thảo, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa cho biết, sau hơn 12 năm thi hành Nghị định số 15/2014/NĐ-CP và Nghị quyết liên tịch số 01/2014/NQLT-CP-UBTƯMTTQVN, một số quy định đã bộc lộ những điểm không còn phù hợp với yêu cầu mới.

 Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý Ngô Quỳnh Hoa báo cáo tóm tắt dự thảo
Ảnh: Bộ Tư pháp

Việc ban hành Nghị định mới nhằm cụ thể hóa đầy đủ các nội dung Luật giao, khắc phục những bất cập của quy định hiện hành, đồng thời phù hợp với bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy chính quyền địa phương, yêu cầu phân cấp, phân quyền và tạo thuận lợi hơn cho cơ sở.

Dự thảo Nghị định gồm 6 chương, 35 điều, tăng 15 điều so với Nghị định số 15/2014/NĐ-CP. Dự thảo được xây dựng theo hướng kế thừa những quy định còn phù hợp; sửa đổi, bổ sung những quy định không còn phù hợp; đồng thời cụ thể hóa những nội dung mới của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026.

Các nội dung đáng chú ý gồm hướng dẫn xác định phạm vi hòa giải; bầu hòa giải viên, tổ trưởng tổ hòa giải; kết hợp các hình thức bầu hòa giải viên; chỉ định hòa giải viên; bảo đảm kinh phí; hồ sơ, thủ tục đề nghị hưởng thù lao theo vụ, việc; hỗ trợ đối với hòa giải viên và người được mời trực tiếp tham gia hòa giải khi bị tai nạn, rủi ro; hình thức hòa giải trực tuyến; xử lý vụ việc không thuộc phạm vi hòa giải; theo dõi thực hiện thỏa thuận hòa giải thành; xử lý trường hợp hòa giải không thành và trách nhiệm quản lý nhà nước về hòa giải ở cơ sở.

Tại Hội thảo, các ý kiến cơ bản thống nhất với hướng kế thừa quy định của Nghị định số 15/2014/NĐ-CP theo phương thức liệt kê, qua đó tạo thuận lợi cho hòa giải viên trong việc xác định vụ, việc thuộc phạm vi hòa giải. Tuy nhiên, một số đại biểu đề nghị tiếp tục rà soát kỹ để quy định dễ hiểu, dễ áp dụng, tránh chồng chéo với thẩm quyền của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Đối với quy định về giải quyết các trường hợp vụ, việc không thuộc phạm vi hòa giải, các đại biểu đề nghị cần quy định rõ cách xử lý trong trường hợp hòa giải viên đã tiến hành hòa giải nhưng mâu thuẫn tiếp tục phát sinh hoặc sau đó phát hiện vụ, việc không thuộc phạm vi hòa giải.

Nhiều ý kiến cũng cho rằng cần quy định cụ thể thời hạn giải quyết đối với những nội dung có sự tham gia, hỗ trợ của cơ quan nhà nước, tránh kéo dài hoặc làm chậm quá trình hòa giải của người dân.

Liên quan đến kinh phí và chế độ đối với người tham gia hòa giải, các đại biểu đồng thuận với việc bổ sung đối tượng được chi thù lao là người được mời trực tiếp tham gia hòa giải; bổ sung chi phí phiên dịch và các chi phí cần thiết khác.

Một số ý kiến đề nghị quy định cụ thể hơn về thủ tục hỗ trợ trong trường hợp hòa giải viên gặp tai nạn hoặc rủi ro trong quá trình thực hiện hòa giải, tránh tình trạng các địa phương áp dụng không thống nhất.

Các đại biểu cũng đề nghị rà soát quy định hiện hành về kinh phí bảo đảm cho công tác hòa giải ở cơ sở để nghiên cứu nâng mức chi đối với từng vụ, việc, bảo đảm tương xứng với tính chất, khối lượng công việc; nghiên cứu cơ chế khoán chi văn phòng phẩm cho tổ hòa giải, đơn giản hóa thủ tục thanh toán và không xác định việc thanh toán thù lao vụ, việc cho hòa giải viên, tổ hòa giải là thủ tục hành chính.

Về quản lý nhà nước, các đại biểu thống nhất với việc phân định lại trách nhiệm giữa cấp tỉnh và cấp xã; đồng thời đề nghị bổ sung hướng dẫn cụ thể về căn cứ, cách thức đề nghị Công an cấp xã hỗ trợ bảo đảm an ninh, trật tự trong quá trình hòa giải.

Phát biểu kết luận Hội thảo, Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc đánh giá cao tinh thần trách nhiệm và những ý kiến cụ thể, thiết thực của các đại biểu.

Thứ trưởng cho biết, các ý kiến tại Hội thảo là cơ sở quan trọng để cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị định. Cơ quan soạn thảo sẽ tổng hợp đầy đủ, phân loại rõ các nhóm vấn đề, nghiên cứu tiếp thu tối đa các ý kiến có cơ sở; đồng thời tiếp tục rà soát những vấn đề phát sinh từ thực tiễn để kịp thời xử lý, bảo đảm tiến độ xây dựng, trình ban hành Nghị định./.

Tin liên quan

Xem thêm