Tỉnh Hưng Yên đang triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các bảo vật quốc gia trên địa bàn.
Hưng Yên nổi tiếng không chỉ là địa phương có nhiều danh lam thắng cảnh mà còn là nơi lưu giữ nhiều bảo vật quốc gia. Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 236/QĐ-TTg ngày 3/2/2026 công nhận 30 hiện vật, nhóm hiện vật là bảo vật quốc gia, trong đó tỉnh Hưng Yên vinh dự có hai bảo vật quốc gia là bàn thờ Phật bằng đá thời Mạc chùa Nhạn Tháp và bộ ba ngai thờ gỗ thời Mạc đền Đa Hòa. Cả hai bảo vật này cùng có niên đại thế kỷ XVI và ở xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên.
* Bàn thờ Phật bằng đá thời Mạc chùa Nhạn Tháp
Bàn thờ Phật được cấu tạo từ nhiều khối đá ghép nối, tạo thành bệ thờ hoàn chỉnh có dạng khối hộp chữ nhật, đặt tại trung tâm tòa Thượng điện chùa Nhạn Tháp. Nhìn tổng thể, bệ thờ có dáng như một tòa sen lớn, chia làm 4 phần: mặt bệ (đài sen), thân bệ, chân bệ và đế bệ; chiều cao 147cm, chiều dài 314cm và chiều rộng 154cm. Căn cứ vào hình dáng và đặc biệt là các họa tiết hoa văn trang trí trên bệ thờ, các nhà nghiên cứu cho rằng Bàn thờ Phật có niên đại khoảng thế kỷ XVI (thời Mạc).
Theo các nhà nghiên cứu, căn cứ vào tài liệu, hiện vật hiện lưu giữ tại đây chứng minh di tích được khởi dựng từ khá sớm. Những giá trị vật chất còn lại khẳng định, bàn thờ Phật bằng đá là hiện vật gốc, gắn liền với di tích chùa Nhạn Tháp ngay từ khi khởi dựng. Bệ thờ được tạo tác bằng phương pháp thủ công truyền thống với kỹ thuật đục đẽo, chạm khắc tinh xảo, trau chuốt, vô cùng độc đáo, không bị rập khuôn theo một hình mẫu nhất định, mang dấu ấn thời đại. Bàn thờ Phật bằng đá là một trong số ít hiện vật tiêu biểu về nghệ thuật chạm khắc đá thời Mạc còn khá nguyên vẹn trong hệ thống di tích của người Việt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Vì vậy, hiện được đánh giá mang tính độc bản.
Theo Giám đốc Ban Quản lý Di tích tỉnh Hưng Yên Nguyễn Thị Thu Hường, điểm khác biệt của bàn thờ Phật bằng đá thời Mạc chùa Nhạn Tháp so với các bệ thờ thời kì trước là những cánh sen không được trang trí hoa văn ở giữa lòng mà để trơn đầy đặn. Trong khi đó, những bệ thờ thời Trần họa tiết hoa văn trang trí trong lòng cánh sen thường là hoa mai. Đáng chú ý, sự độc đáo còn được thể hiện trong cấu trúc phần đế bệ với hàng cánh sen úp được tạo dáng vát, trang trí cánh sen khắc chìm với kích thước khá lớn. Bốn góc đế bệ hơi cong cũng là điểm khác biệt.
Dưới góc độ mỹ thuật, bàn thờ Phật bằng đá thời Mạc chùa Nhạn Tháp được xem là biểu tượng đỉnh cao của kỹ thuật điêu khắc đá, thể hiện trí tuệ, sáng tạo, đôi bàn tay tài hoa của nghệ nhân điêu khắc đá thế kỷ XVI. Hình chạm trên tác phẩm được thể hiện trau chuốt, tỷ mỷ với những đường nét khúc chiết, uốn lượn uyển chuyển, mềm dẻo như hình thêu trên gấm và hầu như không xuất hiện đường thẳng, nét thẳng. Chính vì vậy, bàn thờ Phật bằng đá thời Mạc chùa Nhạn Tháp được xem là một trong không nhiều tác phẩm nghệ thuật bằng đá tiêu biểu cho nghệ thuật tạo hình Việt Nam.
"Bàn thờ Phật bằng đá thời Mạc chùa Nhạn Tháp là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo điển hình, mang giá trị lịch sử văn hóa mỹ thuật. Là hiện vật gốc độc bản, bàn thờ với hình thức thể hiện độc đáo, có giá trị nghệ thuật đặc biệt trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam", bà Nguyễn Thị Thu Hường cho hay.
* Bộ ba ngai thờ gỗ phản ánh trình độ chạm khắc gỗ điêu luyện
Trong khi đó, bộ ba ngai thờ gỗ thời Mạc đền Đa Hòa được tạo tác bằng phương pháp thủ công truyền thống với kỹ thuật đục đẽo, chạm khắc tinh xảo, trau chuốt và vô cùng độc đáo, không bị rập khuôn theo một hình mẫu nhất định, mang đậm dấu ấn thời đại. Hình ảnh rồng, phượng, hoa sen và hoa cúc được thể hiện uyển chuyển, mạnh mẽ, mang đậm phong cách mỹ thuật thời Mạc – thời kỳ phục hưng các giá trị nghệ thuật dân tộc.
Theo các nhà nghiên cứu, đây là những ngai thờ gỗ có niên đại sớm nhất hiện còn tồn tại trong kho tàng di sản ngai thờ Việt Nam, phản ánh trình độ chạm khắc gỗ điêu luyện, với sự phối kết hợp kỹ thuật chạm lộng, chạm thủng tạo nên những lớp hoa văn tầng tầng, lớp lớp. Những đường chạm khắc sắc sảo, bố cục chặt chẽ, đăng đối, hài hòa đã tôn lên từng chi tiết cùng với màu sắc của kỹ thuật sơn son, thếp vàng. Tất cả tạo nên sự khác biệt độc đáo và trở thành một tác phẩm độc nhất vô nhị trong kho tàng điêu khắc gỗ Việt Nam.
Ông Hoàng Hưng, Phó Trưởng ban Văn hóa xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên cho biết, trong Khu di tích Đa Hòa - Dạ Trạch, nhóm hiện vật đặc biệt như ba ngai thờ mang tính thẩm mĩ cao, tiêu biểu cho mỹ thuật điêu khắc gỗ thế kỷ XVI, phản ánh lịch sử dựng nước và giữ nước của cư dân khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng từ xa xưa, gắn với truyền thuyết về tình yêu đẹp giữa Chử Đồng Tử và công chúa Tiên Dung, một vị Thánh trong Tứ bất tử.
Theo ông Nguyễn Văn Tờn, thủ nhang đền Đa Hòa, việc bộ ngai thờ gỗ được công nhận là bảo vật quốc gia không chỉ là niềm tự hào riêng của quê hương Mễ Sở mà còn là tài sản vô giá, minh chứng cho một giai đoạn phát triển văn hóa - nghệ thuật rực rỡ của dân tộc. Tuy nhiên, niềm tự hào luôn song hành cùng trách nhiệm. Ông Nguyễn Văn Tờn hiểu rằng mình không chỉ bảo vệ hiện vật bằng gỗ đơn thuần mà đang gìn giữ tài sản vô giá quốc gia.
Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Hưng Yên Đào Mạnh Huân cho biết, cùng với hai bảo vật mới được công nhận này, hiện nay tỉnh có 12 hiện vật, nhóm hiện vật được Thủ tướng Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia. Các bảo vật này không chỉ mang giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật mà còn là minh chứng cho sự hưng thịnh của vùng đất "Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến". Hiện tỉnh đang triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị các bảo vật quốc gia.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh tiếp tục phối hợp với ngành chức năng và các địa phương lập phương án bảo vệ, đảm bảo tuyệt đối an toàn, phòng, chống cháy nổ; đồng thời đề xuất cơ chế phối hợp liên ngành giữa cơ quan quản lý văn hóa, Công an và chính quyền sở tại trong việc bảo vệ, bảo quản bảo vật quốc gia. Bên cạnh đó, Sở phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo triển khai chuỗi hoạt động tuyên truyền về bảo vật quốc gia trong các trường học.
"Không chỉ dừng lại ở mục tiêu lưu giữ giá trị truyền thống, tỉnh Hưng Yên đang đẩy mạnh chiến lược số hóa các di tích lịch sử và bảo vật quốc gia. Đây được coi là bước đi đột phá nhằm tạo ra những sản phẩm du lịch thông minh, đưa di sản trở thành tài nguyên quý giá thúc đẩy kinh tế - xã hội địa phương", ông Đào Mạnh Huân nhấn mạnh./.



