Gốm Bàu Trúc, gốm Bình Đức và nghề dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp không chỉ lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Chăm mà còn tạo sinh kế cho người dân.
Đồng bào dân tộc Chăm ở Khánh Hòa và Lâm Đồng hiện có hơn 149 nghìn người; trong đó Khánh Hòa có 106.222 người (chiếm 4,75%); Lâm Đồng có hơn 43.000 người (chiếm khoảng 1,12%). Đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào ngày càng được nâng lên; các giá trị văn hóa được bảo tồn, phát huy, trở thành nguồn tài nguyên văn hóa trong quá trình hội nhập.
Từ những sản phẩm gốm thủ công đến các tấm thổ cẩm mang hoa văn đặc trưng, các làng nghề Chăm đang từng bước thích ứng với nhu cầu thị trường. Gốm Bàu Trúc, gốm Bình Đức và nghề dệt thổ cẩm Mỹ Nghiệp không chỉ lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Chăm mà còn tạo sinh kế cho người dân. Bảo tồn nghề truyền thống gắn với đổi mới sản phẩm, xây dựng thương hiệu và kết nối du lịch đang mở hướng phát triển bền vững cho các làng nghề.
Bên cạnh hệ thống đền tháp, văn hóa Chăm còn được lưu giữ qua nghề gốm và dệt thổ cẩm. Theo quan niệm truyền thống, nghề gốm và nghề dệt được trao truyền từ mẹ sang con gái, từng được xem là một tiêu chí đánh giá người phụ nữ trong xã hội Chăm xưa.
Nổi tiếng trong nghề gốm Chăm có làng nghề Bàu Trúc (Khánh Hòa), gốm Bình Đức (Lâm Đồng). Các công đoạn làm gốm chủ yếu do phụ nữ thực hiện thủ công.
Nguyên liệu chính là đất sét màu đen xám có độ kết dính cao, khai thác từ các cánh đồng ven sông. Khi tạo dáng, người phụ nữ Chăm không dùng bàn xoay mà đi giật lùi, người hơi khum quanh hòn kê, dùng hai tay bóp, nặn khối đất để tạo hình.
Gốm được nung lộ thiên, thời điểm thích hợp từ tháng 11 đến tháng 7 hoặc tháng 8 năm sau. Trước khi nung, sản phẩm được xếp xen kẽ, tựa vào nhau, kết hợp các phương pháp thủ công để tạo màu tự nhiên. Gốm Chăm có xương gốm dày, rắn chắc, khó thấm nước, hoa văn trang trí đơn giản, gắn với đời sống thường ngày.
Nửa thế kỷ gắn bó với nghề, bà Đàng Thị Lẻo ở làng gốm Bàu Trúc luôn ý thức việc giữ gìn nghề truyền thống. Từ nhỏ, bà theo mẹ lấy đất sét, học nhào nặn, tạo hình. Khoảng 30 tuổi, bà làm chủ tay nghề và bắt đầu sáng tạo sản phẩm mang dấu ấn riêng. Bên cạnh các sản phẩm gia dụng truyền thống, bà nghiên cứu cải tiến mẫu mã, cách vẽ hoa văn và đa dạng hóa sản phẩm theo nhu cầu thị trường.
Làng gốm Bình Đức (Lâm Đồng) hiện có 43 hộ với hơn 60 người duy trì nghề làm gốm Chăm thường xuyên và khoảng 60 hộ làm theo thời vụ, nhất là vào các dịp lễ hội, Tết Nguyên đán.
Nghệ nhân Nguyễn Thị Mai (thôn Bình Đức, xã Bắc Bình, tỉnh Lâm Đồng) cho biết gia đình bà gắn bó với nghề để mưu sinh và giữ nghề gia truyền. Trước đây, các hộ chủ yếu làm nồi đất, bếp lò. Sau khi được chính quyền hỗ trợ học kỹ thuật làm gốm mỹ nghệ tại làng gốm Bàu Trúc, từ năm 2005 đến nay, gia đình bà sản xuất thêm đồ mỹ nghệ, đồ trang trí cung cấp cho các quán, cơ sở du lịch và bán cho du khách, qua đó thu nhập ổn định hơn.
Anh Phú Hữu Minh Thuần, Giám đốc Hợp tác xã gốm Chăm Bàu Trúc (xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa), cho biết nghệ thuật làm gốm của người Chăm được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp năm 2022. Đây là cơ sở để cộng đồng và các cơ quan chức năng cùng tham gia bảo tồn, phát huy giá trị di sản. Làng Bàu Trúc được các nhà nghiên cứu, du khách trong và ngoài nước xem như một bảo tàng gốm Chăm. Gắn bảo tồn với du lịch là hướng đi để tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào.
Theo ông Đinh Hy, nguyên Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm, nghề dệt thổ cẩm của người Chăm đạt trình độ cao về thẩm mỹ và sáng tạo nghệ thuật. Đặc trưng của nghề là kỹ thuật dệt khổ dài trên khung hẹp, tạo những dải hoa văn nhỏ, dài với họa tiết tinh xảo, đòi hỏi kỹ thuật phức tạp, thời gian thực hiện dài và trình độ thẩm mỹ cao.
Tại làng Mỹ Nghiệp, nhiều thế hệ tiếp tục duy trì nghề dệt truyền thống. Ông Phú Văn Ngòi, Giám đốc Hợp tác xã dệt Chăm Mỹ Nghiệp (xã Ninh Phước), cho biết làng nghề hiện có khoảng 400 hộ duy trì nghề dệt.
Đối với đồng bào Chăm, vải thổ cẩm vừa là vật dụng trong đời sống, vừa là biểu tượng văn hóa. Màu sắc, hoa văn trên từng tấm vải thể hiện giới tính, địa vị xã hội, chức sắc tôn giáo và những đặc trưng trong đời sống cộng đồng.
“Sức sống văn hóa Chăm” còn được thể hiện qua các hoạt động sinh hoạt cộng đồng, những điệu múa truyền thống, hợp xướng hát Ayiza cùng tiếng trống Paranưng, tiếng kèn Saranai. Các giá trị này được trao truyền qua nhiều thế hệ, tạo sự kết nối giữa văn hóa Chăm với văn hóa các dân tộc trong cả nước.
Ngày nay, văn hóa Chăm tiếp tục được giới thiệu rộng rãi trong nước và quốc tế. Từ lễ hội Katê đến các lễ hội Văn hóa Chăm toàn quốc trong những năm gần đây cho thấy cộng đồng người Chăm không chỉ gìn giữ bản sắc mà còn từng bước phát huy giá trị văn hóa gắn với đời sống và phát triển.
Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa Chăm không chỉ dừng ở việc gìn giữ những di sản đã có, mà cần gắn với duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống theo hướng bền vững. Việc đổi mới mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và kết nối với du lịch sẽ giúp gốm, thổ cẩm Chăm tiếp cận rộng hơn với thị trường, tạo thêm sinh kế và thu nhập cho người dân. Khi những giá trị được trao truyền qua nhiều thế hệ tiếp tục hiện diện trong đời sống đương đại, làng nghề sẽ trở thành nơi lưu giữ “hồn cốt” văn hóa, đồng thời tạo động lực để di sản Chăm phát triển bền vững trong thời kỳ hội nhập./.



