Khoa học - Sáng tạo

Nâng chất lượng lao động, mở hướng phát triển nông nghiệp vùng cao

Phía sau sự thay đổi của cây trồng và phương thức sản xuất là sự thay đổi về tư duy của người dân, từ sản xuất tự cung tự cấp sang từng bước tiếp cận kỹ thuật mới, sản xuất hàng hóa và tham gia chuỗi giá trị nông nghiệp.

Nhiều con đường dẫn vào các xã vùng cao phía Tây của các tỉnh Quảng Ngãi và Gia Lai luôn rộn ràng hơn trong những ngày đón Tết Bính Ngọ 2026, bởi sắc xanh của những nương rẫy đang vào vụ chăm sóc. Phía sau sự thay đổi của cây trồng và phương thức sản xuất là sự thay đổi về tư duy của người dân, từ sản xuất tự cung tự cấp sang từng bước tiếp cận kỹ thuật mới, sản xuất hàng hóa và tham gia chuỗi giá trị nông nghiệp.

Nông dân Quảng Ngãi thu hoạch thu hoạch dưa được trồng theo tiêu chuẩn nông nghiệp sạch.
Ảnh: Hải Âu - TTXVN

Trong quá trình này, đào tạo, tập huấn và chuyển giao khoa học kỹ thuật đang trở thành yếu tố quan trọng giúp đồng bào dân tộc thiểu số và người dân vùng cao nâng cao năng lực sản xuất, từng bước hình thành đội ngũ nông dân có kiến thức, tay nghề, biết tính toán hiệu quả kinh tế và thích ứng với yêu cầu của nền nông nghiệp hiện đại.

*Học kỹ thuật để thay đổi cách làm

Tại xã Tu Mơ Rông, tỉnh Quảng Ngãi, câu chuyện đổi thay không chỉ bắt đầu từ những mái nhà mới kiên cố mà đang lan tỏa đến các triền rẫy. Việc ổn định nơi ở từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 1719) đã tạo điểm tựa để người dân yên tâm đầu tư cho sinh kế, đồng thời tiếp cận những phương thức sản xuất mới.

Trong căn nhà mới được hỗ trợ xây dựng theo chương trình mục tiêu quốc gia, anh A Ban ở thôn Tu Mơ Rông, xã Tu Mơ Rông, tỉnh Quảng Ngãi chia sẻ: “Tết năm nay mình có nhà mới rồi, mình yên tâm làm ăn. Trước kia cứ sợ mưa gió là lo sửa nhà, giờ tập trung lo nương rẫy được rồi”.

Khi đời sống từng bước ổn định, yêu cầu đặt ra tiếp theo là giúp người dân có kiến thức và kỹ năng để phát triển sản xuất. Tại Tu Mơ Rông, một trong những hướng đi rõ nét là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, lựa chọn những loại cây phù hợp với thổ nhưỡng và có giá trị kinh tế cao.

Cây cà phê đem lại nguồn thu ổn định cho người dân.
Ảnh: K GỬIH - TTXVN

Anh A Vũ ở thôn Long Leo là một trong những hộ tiên phong chuyển đổi đất rẫy sang trồng cà phê Catimor. Từ nguồn hỗ trợ 10.000 cây giống, phân bón và kỹ thuật canh tác, anh mạnh dạn đầu tư 5 ha cà phê. Vụ thu bói đầu tiên mang lại khoảng 80 triệu đồng.

Anh A Vũ cho biết: “Nếu không được hỗ trợ cây giống và kỹ thuật, tôi khó dám trồng diện tích lớn như vậy. Giờ thấy cà phê hợp đất, gia đình tính đầu tư thêm hệ thống tưới để chăm sóc tốt hơn”.

Điểm đáng chú ý trong câu chuyện này không chỉ nằm ở diện tích 5 ha cà phê hay khoản thu nhập bước đầu, mà ở việc người dân đã có thêm kiến thức để đưa ra quyết định sản xuất. Từ chỗ phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm, anh A Vũ bắt đầu quan tâm đến giống, kỹ thuật chăm sóc, hệ thống tưới và khả năng đầu tư dài hạn cho cây trồng.

Những buổi tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, sử dụng phân bón hợp lý... vì thế không đơn thuần là hoạt động chuyển giao kiến thức. Đây là quá trình giúp người dân thay đổi cách nghĩ và cách làm, từng bước hình thành kỹ năng sản xuất phù hợp với điều kiện thực tế của vùng cao.

Theo lãnh đạo xã Tu Mơ Rông, việc hỗ trợ sinh kế được triển khai theo phương thức “Nhà nước và nhân dân cùng làm”. Nhà nước hỗ trợ giống, vật tư và hướng dẫn kỹ thuật; người dân đối ứng công lao động, chủ động chăm sóc sản xuất. Cách làm này góp phần hạn chế tâm lý trông chờ, ỷ lại, đồng thời khuyến khích người dân chủ động thay đổi phương thức sản xuất.

Phó Chủ tịch UBND xã Tu Mơ Rông Nguyễn Bá Thành khẳng định: “Các tiểu dự án thuộc Chương trình 1719 đã đi sâu vào thực tế đời sống. Qua triển khai, chúng tôi nhận thấy bà con rất phấn khởi và đồng thuận cao. Hiệu quả lớn nhất không chỉ là những con số về diện tích hay thu nhập, mà là sự thay đổi trong nếp nghĩ, cách làm của đồng bào dân tộc thiểu số”.

Sự thay đổi về “nếp nghĩ, cách làm” chính là nền tảng để nâng cao chất lượng lao động nông nghiệp ở vùng cao. Khi người dân biết áp dụng kỹ thuật, tính toán chi phí, lựa chọn giống cây trồng, chủ động chăm sóc và quan tâm đến đầu ra, lao động nông nghiệp từng bước chuyển từ sản xuất theo kinh nghiệm sang sản xuất có kiến thức và tổ chức hơn.

*Hình thành đội ngũ nông dân có kỹ năng, hướng tới sản xuất hàng hóa

Từ những mô hình sinh kế ban đầu ở Tu Mơ Rông, một chuyển biến quan trọng đang diễn ra: sản xuất nông nghiệp vùng cao từng bước hướng tới quy mô hàng hóa. Khi cây cà phê trở thành cây trồng chủ lực, người dân bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến năng suất, chất lượng và thị trường.

Để đạt được mục tiêu đó, việc đào tạo và tập huấn phải đi cùng quá trình sản xuất. Người dân không chỉ cần biết cách trồng và chăm sóc cây mà còn phải từng bước nắm được quy trình sản xuất, sử dụng vật tư hợp lý, phòng trừ sâu bệnh, tính toán hiệu quả và đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Ở cấp xã, các nhóm hộ, tổ sản xuất cũng dần hình thành, tạo tiền đề để liên kết với doanh nghiệp thu mua. Đây là bước chuyển quan trọng, bởi khi sản xuất có tổ chức, người dân có điều kiện trao đổi kinh nghiệm, tiếp cận kỹ thuật đồng bộ và nâng cao khả năng tham gia chuỗi giá trị.

Từ góc nhìn rộng hơn, câu chuyện ở Tu Mơ Rông phản ánh yêu cầu chung đối với lao động nông nghiệp tại các địa bàn miền núi: hỗ trợ sinh kế cần đi cùng nâng cao năng lực của chính người sản xuất. Cây giống, vật tư hay nguồn vốn chỉ tạo điều kiện ban đầu; để mô hình duy trì và phát triển bền vững, người dân phải làm chủ được kỹ thuật và từng bước làm chủ quá trình sản xuất.

Nếu ở xã Tu Mơ Rông, tỉnh Quảng Ngãi, người dân mới bắt đầu làm quen với sản xuất hàng hóa từ những vườn cà phê vài ha thì tại tỉnh Gia Lai, quá trình này đã phát triển ở quy mô lớn hơn, với các vùng nguyên liệu rộng hàng chục nghìn ha và sự tham gia của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Tại một số xã của tỉnh Gia Lai, các mô hình sản xuất cà phê theo hướng hữu cơ, liên kết với hợp tác xã và doanh nghiệp đã được triển khai, giúp nông dân được hỗ trợ kỹ thuật, vật tư đầu vào và bao tiêu sản phẩm với giá cao hơn so với sản xuất truyền thống. Nhiều hộ không còn chỉ bán cà phê thô theo mùa vụ mà tham gia vào quy trình sản xuất từ chăm sóc đến thu hoạch, sơ chế và xuất khẩu.

Không chỉ cà phê, các vùng nguyên liệu cây ăn quả như chuối, chanh dây, sầu riêng ở Gia Lai cũng đang được phát triển theo mô hình liên kết giữa doanh nghiệp và nông dân. Những trang trại quy mô hàng trăm ha, áp dụng tiêu chuẩn GlobalGAP, VietGAP đã tạo ra sản lượng lớn phục vụ xuất khẩu sang các thị trường khó tính ở nước ngoài.

Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai Cao Thanh Thương thông tin: “Tỉnh Gia Lai hiện có khoảng 70.675 ha cây trồng được chứng nhận sản xuất tốt theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, hữu cơ; gần 251.000 ha cây trồng tham gia liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm. Cùng với đó là 309 mã số vùng trồng và 40 cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu nông sản sang các thị trường lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand…”.

“Những con số này cho thấy sản xuất nông nghiệp ở Gia Lai không còn dừng ở quy mô hộ gia đình, mà đã được tổ chức theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh, từ vùng trồng - thu hoạch - sơ chế - chế biến - xuất khẩu. Nhiều nông hộ tham gia vào các chuỗi liên kết với doanh nghiệp như CP Việt Nam, CJ Vina Agri, GreenFeed…, giúp ổn định đầu ra và nâng cao giá trị sản phẩm”, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Gia Lai thông tin thêm.

Để hình thành những vùng sản xuất như vậy, chất lượng lao động là một trong những yếu tố quyết định. Khi yêu cầu về tiêu chuẩn sản xuất, mã số vùng trồng, truy xuất nguồn gốc, sơ chế và xuất khẩu ngày càng cao, người nông dân không thể chỉ sản xuất dựa trên kinh nghiệm mà phải được trang bị kiến thức và kỹ năng phù hợp.

Sự khác biệt giữa các xã vùng cao Quảng Ngãi và Gia Lai vì vậy không chỉ nằm ở quy mô sản xuất mà còn ở mức độ tổ chức và trình độ sản xuất. Nếu Tu Mơ Rông đang trong giai đoạn đầu của quá trình chuyển đổi, thì Gia Lai đã hình thành những vùng nguyên liệu lớn, gắn với hợp tác xã và doanh nghiệp. Đây cũng là cơ sở để thấy rằng nâng cao chất lượng lao động cần được xem là một quá trình lâu dài, từ hướng dẫn kỹ thuật ban đầu đến hình thành năng lực sản xuất đáp ứng yêu cầu của thị trường.

Từ những nương cà phê non trẻ ở Tu Mơ Rông đến những vùng nguyên liệu quy mô lớn ở Gia Lai, quá trình chuyển đổi của nông nghiệp vùng cao đang cho thấy vai trò ngày càng rõ của tri thức và kỹ năng. Người dân không chỉ cần được hỗ trợ để có tư liệu sản xuất mà còn cần được đào tạo, tập huấn để biết cách sử dụng hiệu quả những nguồn lực đó.

Đây là hướng đi phù hợp với yêu cầu xây dựng đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có tri thức và tay nghề, nhất là tại các địa bàn còn nhiều khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Khi người nông dân được trang bị kiến thức về kỹ thuật canh tác, sản xuất an toàn, sử dụng hiệu quả vật tư, thích ứng với điều kiện tự nhiên và kết nối thị trường, những chính sách hỗ trợ sinh kế mới có thể chuyển hóa thành năng lực sản xuất lâu dài.

Từ đó, những nương rẫy vùng cao không chỉ tạo ra sản phẩm phục vụ đời sống mà từng bước trở thành vùng nguyên liệu hàng hóa, gắn với chuỗi giá trị và thị trường. Quan trọng hơn, phía sau sự thay đổi của cây trồng là sự thay đổi của chính người sản xuất - từ lao động nông nghiệp dựa nhiều vào kinh nghiệm sang những người nông dân từng bước làm chủ kiến thức, kỹ thuật và quá trình sản xuất, tạo nền tảng cho một nền nông nghiệp xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.

PV

Tin liên quan

Xem thêm