Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An năm 2015, cô Mai mang theo nhiệt huyết của tuổi trẻ về với vùng cao huyện Tương Dương (cũ). Sau 2 năm dạy hợp đồng tại xã Xá Lượng (cũ), năm 2017, cô chính thức nhận quyết định về công tác tại Nhôn Mai.
Giữa đại ngàn xứ Nghệ, nơi dòng sông Nậm Nơn vặn mình cuộn chảy qua những vách đá dựng đứng, có một bản nhỏ nằm khuất lấp sau những dãy núi, biệt lập như một ốc đảo giữa lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ. Đó là bản Phia Òi, thuộc xã biên giới Nhôn Mai, tỉnh Nghệ An. Để đến nơi được ví như vùng “sơn cùng thủy tận” này, người ta phải di chuyển bằng thuyền máy nhỏ tròng trành hàng chục phút giữa mênh mông sóng nước. Những tưởng, công việc gian nan và có phần hiểm nguy này chỉ đến với người dân bản địa khi đi đánh bắt cá trên sông, ngược xuôi buôn bán nhưng lại là “chuyện thường ngày” đối với cô giáo trẻ Ngô Thị Mai, giáo viên điểm trường Mầm non bản Phia Òi (Trường Tiểu học xã Nhôn Mai, tỉnh Nghệ An) trong hành trình cắm bản, gieo chữ, thực hiện sứ mệnh ươm mầm trồng người.
* Gian nan “chở” chữ ngược thượng nguồn Nậm Nơn
Hành trình của chúng tôi bắt đầu từ bến đò trung tâm xã. Chiếc thuyền nhỏ, dài, gắn động cơ chở 5 người và 3 xe máy tròng trành ngược dòng Nậm Nơn, lướt đi giữa lòng hồ Thủy điện Bản Vẽ mênh mông nước. Suốt 30 phút lênh đênh, cảm giác bất an luôn thường trực khi nhìn xuống làn nước xanh trong và sâu thẳm. Đôi lúc, thuyền gặp mớm nước, thân thuyền chao nghiêng. Để giữ độ thăng bằng cho thuyền, chúng tôi phải ngồi yên một chỗ, tay ghì chặt mạn thuyền. Thuyền cập bến đò bản Phia Òi, nơi sinh sống của cộng đồng dân tộc Khơ Mú, chúng tôi phải đi xe máy men theo con đường dốc, vắt vẻo, quanh co, men theo lưng chừng núi với nhiều những bờ vực, hủm sâu thêm hơn 10 phút mới đặt chân đến Điểm trường mầm non bản Phia Òi. Tại điểm trường này, ngoài cô giáo Ngô Thị Mai, còn có 1 cô giáo trẻ khác cùng bám bản, đứng lớp quản lý dạy 9 cháu học sinh, có độ tuổi từ 3-5 tuổi.
Tranh thủ cho các cháu học sinh nghỉ giải lao, cô Ngô Thị Mai mới có thời gian chia sẻ về hành trình gieo chữ tại xã biên giới xa xôi, vùng khó khăn bậc nhất của tỉnh Nghệ An. Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Nghệ An năm 2015, cô Mai mang theo nhiệt huyết của tuổi trẻ về với vùng cao huyện Tương Dương (cũ). Sau 2 năm dạy hợp đồng tại xã Xá Lượng (cũ), năm 2017, cô chính thức nhận quyết định về công tác tại Nhôn Mai.
Năm 2018, khi cô Mai lần đầu đặt chân đến Phia Òi, nơi đây vẫn là một “ốc đảo” tách biệt hoàn toàn với thế giới bên ngoài: không điện lưới, không sóng điện thoại, không nước sạch. Lúc ấy, ngay cả con đường bộ từ bến đò lên điểm trường cũng chưa có, cô Mai và đồng nghiệp phải đi thuyền thêm 15 phút sâu vào phía trong “vịnh” nhỏ của sông Nậm Nơn rồi đi, leo dốc mới đến được lớp học.
Gần 10 năm cắm bản nơi vùng đất khó Nhôn Mai, việc di chuyển trên sông Nậm Nơn bằng thuyền máy đã trở nên quen thuộc, nhưng cảm giác sợ hãi đối với phụ nữ không biết bơi như cô Mai thì còn hiện hữu dai dẳng. Gia đình cô Mai ở huyện Tân Kỳ (cũ), cách trung tâm xã Nhôn Mai gần 200km. Mỗi dịp đầu và cuối tuần, sau thời gian ít ỏi bên gia đình, người thân, cô Mai phải vượt hành trình từ nhà đến trường trên cung đường ấy với bao vất vả, khó khăn và hiểm nguy, nhất là mùa mưa bão, nguy cơ lũ quét, sạt lở đất đá rất cao. Cô Mai chia sẻ, đi đường bộ tuy vất vả, nhưng không đáng lo sợ bằng việc di chuyển trên sông Nậm Nơn bằng thuyền máy. Những hôm gặp trời mưa, gió mạnh, nước sông Nậm Nơn có dòng chảy mạnh hoặc có sóng lớn thì việc ngồi trên đò qua lòng hồ nước sâu luôn thường trực nỗi bất an. Việc di chuyển trên lòng hồ vào thời điểm nước đục cũng dễ va chạm phải thân cây trôi nổi lập lờ trên mặt nước mà lái thuyền khó có thể nhận biết được. Chỉ đến lúc đò cập bến thì mới có thể thở phào nhẹ nhõm. Điều khó khăn, vất vả hơn là việc di chuyển trên sông Nậm Nơn luôn trong trạng thái “lụy đò”, phương tiện không có sẵn, nhiều khi phải chờ hàng chục phút mới có chuyến qua sông.
“Hiện tại, giá mỗi chuyến qua sông Nậm Nơn là 10.000 đồng tính cả xe máy. Nhưng vào thời điểm đầu năm học 2025-2026, do ảnh hưởng của trận lũ ống, lũ quét lịch sử xảy ra trên diện rộng gây thiệt hại nặng nề đối với các xã miền núi phía Tây tỉnh Nghệ An vào tháng 7/2025, lòng sông Nậm Nơn ngập đầy rác gỗ. Khi đó, việc di chuyển, đi lại trên lòng hồ trở nên nguy hiểm gấp bội phần. Thời điểm ấy, mỗi lần qua sông để vào điểm trường, chúng tôi phải trả tới 150.000 đồng cho một chuyến đò. Rác gỗ kẹt cứng lòng sông, lái đò phải mất cả tiếng đồng hồ vất vả lắm mới lách qua được. Ngoài đường sông ra, không còn còn đường nào khác để tiếp cận bản làng”, cô Mai chia sẻ.
Tuy khó khăn, vất vả là vậy nhưng với cô Mai và đồng nghiệp, những ánh mắt thân thương, hồn nhiên đang đón chờ cô vào lớp là niềm vui, trách nhiệm và là niềm tự hào, hạnh phúc đối với giáo viên mầm non ở vùng cao biên giới. Trong gian nhà cấp 4 đơn sơ, tiếng đọc chữ của những đứa trẻ Khơ Mú vang lên giữa tiếng xào xạc của rừng đại ngàn, tạo nên một bản hòa âm trong trẻo, tạo niềm tin vững bền đối với cộng đồng Khơ Mú nơi ốc đảo Phia Òi.
* "Mẹ hiền" của trẻ em Khơ Mú và triết lý "4 cùng" nơi biên viễn
Tại bản Phia Òi, ngoài khó khăn về địa lý, giao thông cách trở thì rào cản về nhận thức và ngôn ngữ lại cũng là một bài toán khó cho lòng kiên trì đối với những giáo viên cắm bản. Ở Phia Òi, 100% dân cư là đồng bào Khơ Mú, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn. Hơn 10 năm trước, việc học chữ đối với bà con nơi đây không quan trọng bằng việc “cái bụng phải no”.
Cô Ngô Thị Mai chia sẻ, những ngày đầu đến lớp, ở độ tuổi mầm non, các cháu nhỏ con em đồng bào Khơ Mú rất e dè, sợ sệt khi thấy người lạ. Mặt khác, yếu tố bất đồng ngôn ngữ khiến cô và trò chỉ biết nhìn nhau qua ánh mắt. Không nản lòng, bằng chính sự chân thành, cô Mai và đồng nghiệp bắt đầu thực hiện chiến dịch “thâm nhập” vào đời sống bản làng. Cô dành thời gian buổi tối, những ngày nghỉ đến từng nhà dân, học từng từ tiếng địa phương, tìm hiểu phong tục tập quán của đồng bào để xóa nhòa khoảng cách, tạo sự thân thiện, gần gũi với cộng đồng dân bản.
Cô Mai đã thực hiện triệt để phương châm “4 cùng” (cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng sử dụng tiếng đồng bào) trong thời gian công tác tại bản làng. Chính nhờ việc biết tiếng bản địa, cô đã thuyết phục được phụ huynh của học sinh tin tưởng mình hơn. Khi cha mẹ các em đi nương rẫy xa không thể đưa con đến lớp, cô Mai lại cắt rừng, đến tận nhà đón các em. Có những buổi sáng, cô phải tự tay tắm rửa, giặt giũ cho học trò vì các em đến lớp trong bộ dạng lấm lem. Không chỉ dạy chữ, cô còn dạy các em cách giữ gìn vệ sinh, cách mặc quần áo sao cho ấm, cách rửa tay sao cho sạch...
Khám phá không gian lớp học của cô Mai, chúng tôi dễ dàng nhận ra rằng, dù điều kiện vật chất thiếu thốn, nhưng trong lớp học của cô Mai không bao giờ thiếu đi sự sáng tạo. Bởi cô đã tận dụng các vật liệu tự nhiên như tre nứa, lá rừng, vỏ chai nhựa để tự tay làm đồ dùng, đồ chơi cho trẻ. Những lễ hội như “Vui Trung thu”, “Tết quê em” hay “Quà tặng mẹ”… được cô và đồng nghiệp tổ chức bài bản, giúp trẻ em vùng cao có được những trải nghiệm vốn chỉ thấy qua màn hình tivi.
Cô Mai còn mạnh dạn ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy - một điều tưởng chừng không tưởng ở nơi không sóng điện thoại. Cô chuẩn bị sẵn các bài giảng, hình ảnh sinh động trên máy tính cá nhân để các em được tiếp cận với thế giới bên ngoài một cách trực quan nhất. Nhờ vậy, từ những đứa trẻ nhút nhát, học sinh bản Phia Òi giờ đây đã mạnh dạn, tự tin, biết múa hát và kể chuyện bằng tiếng phổ thông.
Giờ đây, mỗi buổi sáng trong tuần, hình ảnh những ông bố, bà mẹ người Khơ Mú chở con đến trường, nắm tay dắt con vào lớp, trao tận tay cho cô Mai với nụ cười tin cậy đã trở thành nếp sinh hoạt quen thuộc. Những năm qua, tỷ lệ trẻ ra lớp đúng độ tuổi ở bản Phia Òi luôn đạt 100%.
Ghi nhận những đóng góp không mệt mỏi đó, năm học 2023-2024, cô Ngô Thị Mai đã vinh dự được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong phong trào thi đua đổi mới, sáng tạo trong quản lý, giảng dạy và học tập.
Bà Vi Thị Hiền, Hiệu trưởng trường Mầm non Nhôn Mai cho biết, “cô Mai là giáo viên trẻ, có tinh thần, trách nhiệm, nhiệt tình, đam mê nghề, mẫu mực, năng lực vững vàng và trên hết là một trái tim nhân hậu, luôn sẵn sàng hỗ trợ đồng nghiệp và hết lòng vì học trò vùng khó”.
Gần 10 năm công tác, thanh xuân của cô giáo Ngô Thị Mai đã gửi lại nơi cộng đồng dân bản miền đất khó Nhôn Mai và sóng nước Nậm Nơn. Với cô, mỗi ánh mắt trong veo của học trò là một lời tiếp thêm động lực để cô tiếp tục hành trình “gieo chữ” trong sự nghiệp trồng người. Câu chuyện của cô không chỉ là chuyện về nghề giáo, mà là bài ca về lòng nhân ái và khát khao thay đổi cuộc sống cho những mảnh đời nơi biên viễn xa xôi./.



