Xã hội

Nhà nông đổi mới cách làm bằng tư duy công nghệ

Ninh Bình

Phát triển mô hình nuôi lươn không bùn là hướng đi phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi và nâng cao giá trị kinh tế trên diện tích đất không lớn.

Gia đình anh Nguyễn Văn Lưu, xã Hồng Phong (Ninh Bình) kiểm tra, chăm sóc lươn. 
Ảnh: Nguyễn Lành - TTXVN

Từ khó khăn về nguồn con giống, anh Nguyễn Văn Lưu, xã Hồng Phong, tỉnh Ninh Bình đã nghiên cứu, sáng tạo giải pháp sản xuất lươn giống bằng tổ nhân tạo và hệ thống ấp trứng đảo nước đẩy ngược. Sáng kiến không chỉ giúp nâng cao tỷ lệ nở mà còn giúp người nuôi chủ động nguồn giống, phát triển nghề nuôi lươn theo chuỗi giá trị.

*Sáng tạo từ đặc tính sinh học của vật nuôi

Từ một người nuôi lươn thương phẩm, anh Nguyễn Văn Lưu trở thành “nhà nhân giống” cung cấp cho nhiều cơ sở nuôi lươn trên địa bàn tỉnh Ninh Bình. Khoảng 10 năm trước, trong thời gian lập nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh, anh Lưu có dịp tham quan các mô hình nuôi lươn không bùn ở các tỉnh miền Tây. Nhận thấy đây là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế, trong khi tại quê nhà, người dân vẫn chủ yếu nuôi lươn theo phương thức truyền thống trong ao, năm 2019, anh quyết định trở về quê phát triển mô hình này.

Thời gian đầu, anh đầu tư xây dựng 12 bể nuôi lươn không bùn. Con giống được anh nhập chủ yếu từ các tỉnh phía Nam. Tuy nhiên, quãng đường vận chuyển xa khiến chất lượng con giống suy giảm, tỷ lệ hao hụt tăng, sự khác biệt về điều kiện khí hậu, môi trường khiến lươn khó thích nghi, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và tỷ lệ sống khi đưa vào nuôi.

Trước những khó khăn đó, anh nhận thấy muốn phát triển trước hết phải chủ động được nguồn giống tại chỗ. Nghĩ là làm, anh bắt tay tìm hiểu đặc điểm sinh sản của lươn, học hỏi kỹ thuật và thử nghiệm các phương pháp nhân giống. Quá trình nghiên cứu, anh đã sáng tạo tổ đẻ nhân tạo và hệ thống ấp trứng đảo nước đẩy ngược.

Anh Nguyễn Văn Lưu, xã Hồng Phong (Ninh Bình) kiểm tra chất lượng lươn giống. 
Ảnh: Nguyễn Lành - TTXVN

Anh Lưu chia sẻ, trong tự nhiên, lươn thường sinh sản tại các hang bùn kín, yên tĩnh, có độ ẩm cao. Từ đặc điểm này, anh thiết kế ao nuôi nền đất với thảm thực vật thủy sinh, tạo môi trường thuận lợi để lươn sinh sản. Thay vì để lươn tự đào hang và đẻ trứng ở những vị trí khó kiểm soát, anh lắp đặt các tổ đẻ nhân tạo bằng ống nhựa nhằm đảm bảo lươn đẻ tập trung, đồng thời giúp người nuôi chủ động theo dõi thời điểm sinh sản, độ tuổi của trứng, thuận tiện cho việc thu gom và đưa vào ấp.

Sau khi thu gom, trứng được chuyển sang hệ thống ấp riêng. Điểm nổi bật của quy trình là bình ấp sử dụng dòng nước đẩy ngược từ dưới lên, giữ trứng luôn ở trạng thái lơ lửng. Cơ chế này mô phỏng hoạt động quạt nước của lươn bố mẹ trong tự nhiên, giúp trứng không bị lắng đọng, bết dính, tăng cường lưu thông oxy quanh bề mặt, đồng thời hạn chế nấm bệnh và vi khuẩn xâm nhập.

Nhờ quy trình ấp có kiểm soát, tỷ lệ trứng nở đạt khoảng 90 - 95%, nấm bệnh và ký sinh trùng được hạn chế ngay từ giai đoạn phôi trứng. Lươn con sau khi nở có chất lượng đồng đều, thích nghi với điều kiện khí hậu bản địa. Quan trọng hơn, việc sản xuất giống không còn phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên, mà từng bước trở thành quy trình có thể kiểm soát, giúp người nuôi chủ động tính toán sản lượng và kế hoạch cung ứng theo từng vụ.

Không chỉ cải tiến ở khâu sinh sản và ấp trứng, anh Lưu còn nghiên cứu kiểm soát môi trường nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho lươn sinh trưởng. Anh chia sẻ, toàn bộ giải pháp được xây dựng trên nguyên lý mô phỏng sinh học, kết hợp kiểm soát chủ động các điều kiện nuôi. Trong hệ thống gồm 5 phân hệ liên kết với nhau, xử lý nước bằng vi sinh đa tầng giữ vai trò nền tảng.

Theo đó, anh kết hợp các chủng vi sinh có lợi với thực vật thủy sinh có khả năng lọc nước tự nhiên, tạo môi trường nuôi tương đối tĩnh nhưng vẫn sạch. Cách làm này giúp phân hủy chất hữu cơ, hạn chế tích tụ khí độc như NH3, H2S, duy trì chất lượng nước ổn định mà không phải thay nước thường xuyên. Nhờ vậy, môi trường nuôi được duy trì gần với điều kiện tự nhiên, hạn chế những biến động bất lợi đối với quá trình sinh trưởng của lươn.

Với giải pháp “Hệ thống sản xuất lươn giống công nghệ cao bằng phương pháp tổ nhân tạo và ấp trứng đảo nước đẩy ngược thích ứng khí hậu bản địa”, anh Lưu đã đạt giải Khuyến khích tại Cuộc thi “Sáng tạo kỹ thuật nhà nông” lần thứ XI năm 2026. Đây không chỉ là sự ghi nhận cho sáng kiến của người nông dân mà còn cho thấy tư duy chủ động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ đang từng bước đi vào sản xuất nông nghiệp.

*Lan tỏa cách làm mới, nâng cao giá trị sản xuất

Anh Nguyễn Văn Lưu, xã Hồng Phong (Ninh Bình) kiểm tra chất lượng lươn giống. 
Ảnh: Nguyễn Lành - TTXVN

Không chỉ tạo ra nguồn giống ổn định, mô hình còn mang lại hiệu quả kinh tế nhờ thiết kế gọn, tiết kiệm diện tích và tự động hóa nhiều công đoạn. So với phương pháp thu trứng trong bùn truyền thống, quy trình mới giúp giảm khoảng 60% công lao động, giảm chi phí đầu tư ban đầu. Việc chủ động nguồn giống cũng giúp người nuôi giảm chi phí đầu vào, có thêm cơ hội tăng thu nhập từ sản xuất, cung cấp lươn giống hoặc nuôi lươn thương phẩm chất lượng cao.

Trên diện tích 3.000 m2, trang trại khép kín của gia đình anh Lưu hiện cung cấp gần 1 triệu con lươn giống mỗi năm cho các hộ nuôi trong và ngoài tỉnh. Điều anh Lưu mong muốn không chỉ là phát triển sản xuất cho gia đình mà còn chia sẻ kinh nghiệm, đưa quy trình này đến gần hơn với những người có nhu cầu phát triển nghề nuôi lươn.

Theo anh Lưu, mô hình có thể triển khai từ quy mô hộ gia đình đến trang trại lớn, tận dụng những khu đất trống quanh nhà để tổ chức sản xuất. Các công đoạn từ chuẩn bị nền nuôi, lắp đặt hệ thống ống, thu gom trứng đến vận hành máy ấp, chăm sóc lươn bột và dưỡng lươn giống đều được anh đúc kết thành quy trình cụ thể. Nhờ đó, người dân có thể dễ dàng tiếp cận, học hỏi và từng bước áp dụng vào điều kiện sản xuất của gia đình.

Từ việc làm chủ quy trình sản xuất giống, anh Lưu kỳ vọng từng bước phát triển mô hình theo hướng liên kết chuỗi giá trị, từ sinh sản, cung ứng con giống, nuôi thương phẩm đến chế biến và tiêu thụ. Qua đó, gia đình có thể mở rộng cơ sở cung ứng giống công nghệ cao, tạo thêm cơ hội việc làm, sinh kế cho người dân.

Ông Hoàng Văn Tuyến, Phó Chủ tịch UBND xã Hồng Phong đánh giá, phát triển mô hình nuôi lươn không bùn là hướng đi phù hợp với điều kiện sản xuất của địa phương, góp phần đa dạng hóa đối tượng nuôi và nâng cao giá trị kinh tế trên diện tích đất không lớn. Thời gian qua, mô hình đã nhận được sự quan tâm, hưởng ứng của người dân. Chính quyền địa phương khuyến khích các hộ lựa chọn phương thức nuôi phù hợp với điều kiện thực tế, chú trọng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chủ động nguồn giống và tăng cường liên kết trong sản xuất.

Cùng với đó, địa phương định hướng phát triển sản phẩm chế biến từ lươn, đưa các sản phẩm này tham gia Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP), qua đó từng bước hình thành chuỗi liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ, tạo sinh kế ổn định cho người dân và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn bền vững.

Hiện nay, việc ứng dụng khoa học công nghệ trong nuôi trồng thủy sản tại Ninh Bình ngày càng phổ biến, từ quan trắc môi trường tự động, nuôi tiết kiệm nước, tuần hoàn nước, xử lý môi trường bằng vi sinh đến nuôi nhiều giai đoạn, hạn chế sử dụng kháng sinh. Các tiến bộ kỹ thuật này góp phần kiểm soát dịch bệnh, nâng cao năng suất, chất lượng và bảo đảm an toàn thực phẩm, đáp ứng yêu cầu chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu. Mười tháng của năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác thủy sản của tỉnh đạt trên 265.800 tấn, tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Các mô hình nuôi tôm công nghệ cao, nuôi ốc hương trong ao nổi có mái che, nuôi lươn không bùn… đã cho thấy hiệu quả rõ nét, mở ra hướng phát triển thủy sản hiện đại, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu./.


Nguyễn Lành

Tin liên quan

Xem thêm