Việc sử dụng kháng sinh chưa hợp lý trong điều trị, chăn nuôi và sản xuất thực phẩm vẫn còn tồn tại; đồng thời, sự lan truyền các vi khuẩn kháng thuốc trong môi trường đang đặt ra nhiều thách thức mới.
Ngày 2/6, tại Hội thảo khoa học “Tiếp cận Một Sức khỏe (One Health) trong phòng chống kháng kháng sinh tại Việt Nam”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuyên, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam cho rằng hiện nay, việc sử dụng kháng sinh chưa hợp lý trong điều trị, chăn nuôi và sản xuất thực phẩm vẫn còn tồn tại; trong khi đó, sự lan truyền các vi khuẩn kháng thuốc trong môi trường đang đặt ra nhiều thách thức mới.
Hội thảo do Hiệp hội Tư vấn nâng cao sức khỏe Việt Nam phối hợp với Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), Viện Y học ứng dụng Việt Nam (Tổng hội Y học Việt Nam) tổ chức, với sự tham dự của Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành, đại diện các bộ, ban, ngành Trung ương cùng các chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuyên nhấn mạnh, kháng kháng sinh hiện được Tổ chức Y tế Thế giới xác định là một trong những mối đe dọa hàng đầu đối với sức khỏe toàn cầu trong thế kỷ XXI. Đây không chỉ là vấn đề của ngành y tế, còn liên quan chặt chẽ đến nông nghiệp, chăn nuôi, môi trường, an toàn thực phẩm và sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia.
Tại Việt Nam, những năm qua, công tác quản lý sử dụng kháng sinh, giám sát tình trạng kháng thuốc và nâng cao nhận thức cộng đồng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh chưa hợp lý trong điều trị, chăn nuôi và sản xuất thực phẩm vẫn còn tồn tại; đồng thời, sự lan truyền các vi khuẩn kháng thuốc trong môi trường đang đặt ra nhiều thách thức mới.
Theo Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, cách tiếp cận “Một Sức khỏe - One Health” ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong giải quyết vấn đề kháng kháng sinh một cách toàn diện. Đây là mô hình tiếp cận liên ngành, kết nối sức khỏe con người, sức khỏe động vật và sức khỏe môi trường nhằm tạo nên hệ thống phòng ngừa, kiểm soát hiệu quả các nguy cơ đối với sức khỏe cộng đồng.
Tại hội thảo, các chuyên gia, nhà khoa học tập trung thảo luận nhiều nội dung như thực trạng kháng kháng sinh trên động vật và môi trường; ảnh hưởng của tồn dư kháng sinh trong thực phẩm đối với sức khỏe con người; các giải pháp giám sát, kiểm nghiệm và kiểm soát kháng sinh; bảo đảm an toàn thực phẩm theo chuỗi từ trang trại đến bàn ăn; tăng cường phối hợp liên ngành trong khuôn khổ One Health.
Đây là những vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, góp phần cung cấp thêm bằng chứng phục vụ việc xây dựng và hoàn thiện chính sách phòng, chống kháng kháng sinh tại Việt Nam.
Từ thực tiễn triển khai, các đại biểu đã chia sẻ thông tin, kinh nghiệm về quản lý và giám sát kháng kháng sinh trong thú y; ảnh hưởng của kháng sinh trong thực phẩm đối với sức khỏe con người; thực trạng kháng kháng sinh của Salmonella trong thực phẩm và Pseudomonas aeruginosa trong nước uống; công tác giám sát kháng thuốc trong môi trường giai đoạn 2025 - 2030; an toàn thực phẩm từ trang trại đến bàn ăn và các định hướng chính sách liên quan.
Theo đại diện Cục Môi trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), công tác quản lý dư lượng kháng sinh trong môi trường tại Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế và thách thức. Hiện chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về dư lượng kháng sinh trong nước thải, đặc biệt là nước thải từ các cơ sở chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và các loại chất thải có nguy cơ cao. Đồng thời, chưa có nghiên cứu đầy đủ về sự tích tụ, lan truyền và tác hại của dư lượng kháng sinh trong môi trường, chuỗi thức ăn và hệ sinh thái.
Bên cạnh đó, Việt Nam chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn để kiểm soát, đánh giá dư lượng kháng sinh trong nước thải chăn nuôi, bệnh viện; chưa có chương trình quan trắc, giám sát dư lượng kháng sinh trong môi trường và mối liên quan với sự tồn tại của vi khuẩn kháng thuốc; đồng thời chưa có quy định về quản lý các loại chất thải chứa kháng sinh như bao bì sau sử dụng, thuốc hết hạn hoặc các chất thải có chứa kháng sinh.
Đề án giám sát kháng thuốc trong môi trường giai đoạn 2025 - 2030 đề ra các mục tiêu gồm nâng cao kiến thức, năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ trong mạng lưới quan trắc và phân tích kháng thuốc trong môi trường; thúc đẩy xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành và hợp tác quốc tế trong quản lý, giám sát, phòng chống kháng thuốc; tăng cường truyền thông, nâng cao nhận thức; triển khai chương trình giám sát thí điểm; xây dựng cơ sở dữ liệu và phân tích xu hướng lan truyền, biến động kháng thuốc trong môi trường.
Đến năm 2030, đề án hướng tới xây dựng và hoàn thiện hệ thống giám sát quốc gia về kháng thuốc trong lĩnh vực môi trường, bảo đảm đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ giám sát trong nước và hội nhập quốc tế; đồng thời hoàn thiện cơ chế, thể chế, chính sách thực thi pháp luật liên quan đến giám sát kháng thuốc trong lĩnh vực môi trường, bao gồm các tiêu chuẩn, quy chuẩn và hướng dẫn kỹ thuật.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuyên đề xuất tiếp tục tăng cường phối hợp liên ngành giữa y tế, nông nghiệp, môi trường và các tổ chức khoa học nghề nghiệp trong triển khai hoạt động giám sát, kiểm soát kháng kháng sinh.
Cùng với việc tăng cường nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới và chia sẻ dữ liệu trong giám sát kháng thuốc phục vụ công tác dự báo, cảnh báo sớm, cần phát huy vai trò của các hội nghề nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu và đội ngũ chuyên gia trong đào tạo, tư vấn và phản biện chính sách. Đồng thời, mở rộng hợp tác quốc tế, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia và tổ chức quốc tế trong triển khai hiệu quả mô hình One Health.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Xuyên cũng đề nghị đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe nhằm thay đổi hành vi sử dụng kháng sinh trong cộng đồng; nâng cao nhận thức của người dân về lựa chọn và sử dụng thực phẩm an toàn./.
- Từ khóa:
- thách thức
- quản lý
- dư lượng
- kháng sinh
- môi trường



