Chính sách và phát triển

Sâm Lai Châu – từ lợi thế đặc hữu đến sinh kế bền vững vùng biên

Lai Châu

Toàn tỉnh hiện bảo tồn khoảng 1.700 cây mẹ ngoài tự nhiên, gây trồng hơn 21.000 cây mô hình; diện tích sâm trồng tập trung đạt trên 146 ha với sự tham gia của 45 doanh nghiệp, hợp tác xã và hơn 100 hộ gia đình, cá nhân.

Từ một loài cây dược liệu quý gắn với điều kiện sinh thái đặc thù của vùng núi cao, sâm Lai Châu đang từng bước được đưa vào sản xuất theo hướng hàng hóa. Tại các xã biên giới, hướng đi này còn mang ý nghĩa rộng hơn khi cây sâm được kỳ vọng trở thành sinh kế giúp người dân nâng cao thu nhập, gắn bó với rừng và góp phần giữ đất, giữ bản, bảo vệ đường biên, mốc giới.

Việc phát triển trồng sâm Lai Châu đã tạo công ăn việc làm cho hàng trăm người dân địa phương, góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo vùng biên giới.
Ảnh: Quý Trung – TTXVN

Tuy nhiên, để lợi thế đặc hữu thực sự trở thành sinh kế bền vững, Lai Châu đang phải giải quyết đồng thời nhiều vấn đề từ vùng trồng, nguồn giống, kỹ thuật canh tác đến vốn, tổ chức sản xuất, chế biến và thị trường.

*Lấy giá trị của rừng làm nền tảng

Lai Châu có điều kiện tự nhiên phù hợp để phát triển nghề trồng sâm. Toàn tỉnh đã xác định khoảng 30.000 ha đất, rừng phù hợp với đặc tính sinh trưởng của cây sâm, trong đó khoảng 17.000 ha được đánh giá rất phù hợp. Tỉnh quy hoạch vùng phát triển 3.000 ha giai đoạn 2026-2030 tại 21 xã, trong đó có 9 xã biên giới với diện tích hơn 1.350 ha.

Những con số này cho thấy dư địa phát triển còn lớn, nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu phải lựa chọn cách phát triển phù hợp. Với cây trồng có chu kỳ dài, yêu cầu kỹ thuật cao và gắn với điều kiện sinh thái đặc thù như sâm Lai Châu, việc mở rộng diện tích nếu không đi cùng kiểm soát giống, kỹ thuật và thị trường có thể tạo ra những rủi ro mới cho người sản xuất.

Thực tế phát triển thời gian qua của Lai Châu đã hình thành những nền tảng ban đầu. Toàn tỉnh hiện bảo tồn khoảng 1.700 cây mẹ ngoài tự nhiên, gây trồng hơn 21.000 cây mô hình; diện tích sâm trồng tập trung đạt trên 146 ha với sự tham gia của 45 doanh nghiệp, hợp tác xã và hơn 100 hộ gia đình, cá nhân. Tỉnh đã cấp 120 mã số cơ sở trồng với gần 6 triệu cây. Riêng khu vực biên giới có hơn 70 ha sâm được trồng với sự tham gia của 23 doanh nghiệp, hợp tác xã và 70 cá nhân.

Điểm đáng chú ý là định hướng của tỉnh không đặt mục tiêu phát triển bằng mọi giá. Tại Hội thảo về cơ chế, giải pháp phát triển sâm Lai Châu ở các xã biên giới (ngày 14/8), lãnh đạo tỉnh nhấn mạnh yêu cầu không phát triển theo phong trào, không chạy theo diện tích và không đánh đổi rừng để lấy diện tích trồng sâm.

Đây là nguyên tắc có ý nghĩa quyết định đối với một sản phẩm được kỳ vọng trở thành lợi thế đặc biệt của địa phương. Sâm Lai Châu chỉ có thể tạo ra giá trị lâu dài nếu việc phát triển được đặt trong tổng thể bảo vệ rừng, quản lý tài nguyên đất và duy trì hệ sinh thái phù hợp.

Hội thảo về cơ chế, giải pháp phát triển sâm Lai Châu ở các xã biên giới.
Ảnh: Quý Trung - TTXVN

Từ cách tiếp cận này, vùng trồng phải được xác định trên cơ sở điều kiện sinh thái, hiện trạng rừng, quy hoạch, phương án quản lý rừng và khả năng tổ chức sản xuất. Nói cách khác, không phải nơi nào có đất cũng có thể trồng sâm và không phải cứ mở rộng diện tích là đồng nghĩa với gia tăng giá trị.

*Bài toán tổ chức chuỗi giá trị

Một trong những mô hình đang cung cấp kinh nghiệm thực tế cho hướng đi này được triển khai tại bản Ngài Thầu, xã Sì Lở Lầu.

Tại đây, lực lượng Bộ đội Biên phòng đã phối hợp hỗ trợ người dân phát triển cây sâm, từng bước hình thành mô hình gắn sản xuất với công tác dân vận và bảo vệ biên giới. Mô hình đã xây dựng 63 nhà dàn, mái che với tổng diện tích gần 6 ha; trồng 15.243 cây sâm Lai Châu, tỷ lệ sinh trưởng khoảng 85%; huy động nguồn lực xã hội hóa trị giá hơn 2 tỷ đồng và trực tiếp hỗ trợ 54 hộ dân.

Với người dân vùng biên, ý nghĩa của mô hình không chỉ nằm ở số cây sâm được trồng. Việc lực lượng Bộ đội Biên phòng cùng tham gia hướng dẫn, hỗ trợ và kết nối các nguồn lực tạo thêm điểm tựa để người dân tiếp cận một phương thức sản xuất mới, đồng thời góp phần tăng cường mối quan hệ giữa chính quyền, lực lượng chức năng và cộng đồng dân cư.

Đại diện 54 hộ dân bản Ngài Thầu, ông Vàng A Thắng cho rằng, người dân cần được hỗ trợ về cây giống, khoa học công nghệ và thị trường tiêu thụ để có thể phát triển cây sâm lâu dài.

Người dân có đất và nhu cầu sản xuất nhưng không thể tự mình giải quyết toàn bộ chuỗi giá trị của cây sâm. Từ một cây giống đạt chuẩn đến kỹ thuật chăm sóc, phòng chống sâu bệnh, vốn đầu tư, bảo quản, chế biến và thị trường tiêu thụ đều đòi hỏi nguồn lực và kiến thức vượt quá khả năng của phần lớn hộ sản xuất nhỏ.

Theo đánh giá tại Hội thảo, phát triển sâm Lai Châu hiện còn những hạn chế về nghiên cứu khoa học, bảo tồn và phát triển nguồn giống; vùng trồng còn manh mún, thiếu liên kết; hạ tầng phục vụ sản xuất, chế biến hạn chế; sản phẩm chế biến sâu chưa phong phú; thương hiệu và thị trường tiêu thụ chưa tương xứng với tiềm năng. Các chính sách hỗ trợ cũng còn khó tiếp cận, trong khi cây sâm có chu kỳ sinh trưởng dài và yêu cầu vốn đầu tư, kỹ thuật cao.

Nếu những điểm nghẽn này không được giải quyết, nguy cơ lớn nhất không phải là thiếu diện tích mà là có diện tích nhưng chưa tạo được giá trị tương xứng.

Bởi vậy, hướng đi được Lai Châu xác định là chuyển từ phát triển riêng lẻ sang tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Trong chuỗi đó, người dân phải là chủ thể trực tiếp và là đối tượng hưởng lợi; hợp tác xã giữ vai trò tổ chức sản xuất; doanh nghiệp dẫn dắt thị trường; nhà khoa học chuyển giao công nghệ, kỹ thuật; Nhà nước kiến tạo cơ chế, chính sách và đầu tư hạ tầng thiết yếu.

Xây dựng Sâm Lai Châu thành sinh kế bền vững vùng biên.
Ảnh: Văn Oanh-TTXVN

Cách tổ chức này đặc biệt quan trọng tại các xã biên giới, nơi phần lớn người dân còn hạn chế về nguồn vốn, điều kiện sản xuất và khả năng tiếp cận thị trường. Nếu chỉ hỗ trợ cây giống mà không hình thành được liên kết đầu ra, người dân vẫn phải tự đối mặt với bài toán tiêu thụ sau nhiều năm đầu tư.

Ngược lại, khi doanh nghiệp tham gia từ khâu xây dựng vùng nguyên liệu, hợp tác xã tổ chức sản xuất, người dân được hướng dẫn kỹ thuật và có cam kết tiêu thụ, giá trị của cây sâm sẽ được hình thành xuyên suốt quá trình thay vì chỉ được tính ở khâu bán sản phẩm thô.

Cùng với đó, việc cấp mã số vùng trồng, số hóa vùng trồng, kiểm soát nguồn gốc giống, bảo hộ sở hữu trí tuệ, xây dựng chỉ dẫn địa lý và phát triển sản phẩm chế biến sâu sẽ là những bước quan trọng để nâng giá trị sâm Lai Châu trên thị trường.

*Giữ rừng, giữ đất và tạo sinh kế nhờ sản phẩm đặc hữu

Đối với các xã biên giới của Lai Châu, câu chuyện cây sâm không chỉ được đặt trong phạm vi phát triển một ngành hàng nông nghiệp. Sinh kế của người dân, bảo vệ rừng và bảo vệ biên giới có mối quan hệ trực tiếp với nhau.

Khi người dân có sinh kế ổn định, thu nhập được cải thiện từ chính nguồn tài nguyên được quản lý bền vững, họ có thêm động lực gắn bó với địa bàn. Với những khu vực biên giới còn nhiều khó khăn, đây là yếu tố quan trọng trong quá trình giảm nghèo và củng cố cộng đồng dân cư.

Bởi vậy, việc phát triển sâm Lai Châu phải đồng thời giải quyết ba yêu cầu: bảo tồn nguồn gen, nâng giá trị kinh tế và tạo sinh kế cho người dân. Nếu chỉ chú trọng giá trị thương mại mà xem nhẹ bảo tồn và môi trường, lợi thế của cây sâm có thể bị suy giảm. Nếu chỉ bảo tồn mà không tạo được sinh kế, cây sâm khó trở thành động lực phát triển kinh tế ở vùng biên.

Từ mô hình tại Ngài Thầu, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn tới là phải đánh giá đầy đủ hiệu quả kinh tế, khả năng nhân rộng và mức độ phù hợp với điều kiện của từng địa bàn trước khi mở rộng. Cùng một cây trồng nhưng điều kiện đất đai, nguồn nước, độ cao, khả năng tiếp cận giao thông và phương thức sinh kế của người dân ở mỗi xã có thể khác nhau.

Do đó, việc phát triển sâm tại 9 xã biên giới trong vùng quy hoạch hơn 1.350 ha cần được thực hiện theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, lựa chọn đúng vùng trồng và nhóm hộ có đủ điều kiện tham gia. Cùng với đó là cơ chế hỗ trợ phù hợp với đặc thù cây trồng có chu kỳ dài, giúp người dân có thể duy trì sản xuất trong thời gian chưa có nguồn thu.

Mục tiêu cuối cùng không phải là tạo ra những vùng sâm có diện tích lớn, mà là hình thành được những vùng nguyên liệu có chất lượng, có truy xuất nguồn gốc, có doanh nghiệp đồng hành, có đầu ra và mang lại thu nhập thực tế cho người dân.

Đây cũng là cơ sở để cây sâm Lai Châu phát huy giá trị đặc hữu mà không tạo thêm sức ép lên rừng. Khi người dân có thể sống được từ rừng, nhưng không phải bằng cách khai thác cạn kiệt tài nguyên rừng; khi sản phẩm được nâng giá trị thay vì chỉ mở rộng diện tích; khi doanh nghiệp, hợp tác xã, nhà khoa học, Nhà nước và người dân cùng tham gia một chuỗi liên kết, cây sâm mới có thể trở thành một hướng sinh kế lâu dài ở vùng biên.

Với cách tiếp cận đó, phát triển sâm Lai Châu không chỉ là câu chuyện của một sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao. Đó còn là một phương thức khai thác lợi thế địa phương gắn với bảo vệ rừng, giảm nghèo, ổn định dân cư và củng cố thế trận lòng dân ở khu vực biên giới./.

PV

Tin liên quan

Xem thêm