Sau khi kết thúc bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031, các Tổ bầu cử phải tiến hành kiểm phiếu, lập biên bản kết quả và thực hiện niêm phong, lưu trữ phiếu bầu theo quy định pháp luật.
Theo thông tin từ Bộ Nội vụ, cuộc bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031 kết thúc hoàn toàn lúc 21 giờ ngày 15/3. Tổ bầu cử phải hoàn thành việc kiểm phiếu trong thời hạn không quá 24 giờ kể từ khi kết thúc việc bỏ phiếu tại khu vực bỏ phiếu.
Trước khi kiểm phiếu, Tổ bầu cử kiểm tra tổng số phiếu thu vào so với tổng số cử tri đã tham gia bỏ phiếu. Nếu tổng số phiếu thu vào bằng hoặc ít hơn số cử tri đã tham gia bỏ phiếu thì tiến hành kiểm phiếu. Trường hợp số phiếu thu vào nhiều hơn số cử tri đã bỏ phiếu, Tổ bầu cử phải kiểm tra lại; nếu kết quả vẫn nhiều hơn thì lập tức bỏ các phiếu vào hòm phiếu, niêm phong hòm phiếu và báo cáo ngay để Ban bầu cử xem xét, giải quyết. Trường hợp vượt thẩm quyền, Ban bầu cử báo cáo Ủy ban bầu cử cùng cấp quyết định.
Theo khoản 1 Điều 27 Thông tư số 21/2025/TT-BNV của Bộ Nội vụ, phiếu bầu hợp lệ phải đáp ứng đủ ba điều kiện: do Tổ bầu cử phát ra và có đóng dấu của Tổ bầu cử; bầu đủ hoặc ít hơn số lượng đại biểu được bầu của đơn vị bầu cử; không ghi thêm tên người ngoài danh sách ứng cử hoặc nội dung khác.
Đối với phiếu bầu được cho là không hợp lệ, Tổ bầu cử không được gạch xóa hoặc sửa các tên ghi trên phiếu. Tổ trưởng Tổ bầu cử đưa ra để toàn Tổ bầu cử xem xét đối với các phiếu bầu được xác định là phiếu bầu không hợp lệ khi phiếu có ghi thêm nội dung khác hoặc bị đánh dấu trên phiếu bầu; phiếu gạch quá mờ không thể nhận biết rõ ràng; phiếu bị hư, hỏng dẫn đến không thể xác định chính xác việc bầu cho những người ứng cử có ghi tên trên phiếu bầu; các trường hợp khác do Tổ trưởng Tổ bầu cử đề xuất.
Khoản 4 Điều 27 Thông tư số 21/2025/TT-BNV quy định, trường hợp cử tri gạch chéo, gạch xiên, gạch dọc hoặc gạch ngang hết toàn bộ hàng chữ họ và tên của người ứng cử thì được tính là không bầu cho người đó. Nếu cử tri chỉ gạch một phần tên hoặc chỉ khoanh tròn, gạch dưới, gạch trên hàng chữ họ và tên thì vẫn được tính là phiếu bầu cho người ứng cử.
Trường hợp người ứng cử vừa có tên khai sinh, vừa có tên thường gọi hoặc có chức vị, pháp danh, pháp hiệu theo tôn giáo, nếu cử tri chỉ gạch một dòng họ và tên thì phiếu đó được tính là phiếu không bầu cho người ứng cử đó. Việc kiểm phiếu bầu cho từng người ứng cử chỉ thực hiện đối với những phiếu bầu hợp lệ. Tổ bầu cử kiểm phiếu theo từng loại phiếu bầu để làm căn cứ xác định số phiếu bầu cho từng người ứng cử.
Theo Điều 29 Thông tư số 21/2025/TT-BNV, sau khi kiểm phiếu và lập biên bản kết quả kiểm phiếu, Tổ bầu cử tiến hành niêm phong phiếu bầu theo từng loại phiếu bầu đại biểu Quốc hội, phiếu bầu đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp như: số phiếu bầu hợp lệ; số phiếu bầu không hợp lệ; số phiếu bầu không sử dụng đến, phiếu viết hỏng của cử tri. Toàn bộ số phiếu đã được niêm phong ở trên phải được Tổ bầu cử cho vào hòm phiếu và làm thủ tục niêm phong hòm phiếu có chữ ký của Tổ trưởng, Thư ký Tổ bầu cử và bàn giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã để quản lý, lưu trữ theo quy định, việc bàn giao hòm phiếu phải có biên bản giao nhận.
Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận, quản lý, lưu trữ các loại phiếu bầu, hòm phiếu của các Tổ bầu cử ở địa phương mình. Trong thời gian quản lý hòm phiếu (bao gồm các loại phiếu bầu) theo quy định pháp luật về lưu trữ (ít nhất là 5 năm), nếu không có ý kiến bằng văn bản của cấp có thẩm quyền thì tuyệt đối không được mở và kiểm tra phiếu bầu đã được niêm phong trong hòm phiếu. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chỉ đạo thực hiện việc số hóa hồ sơ, tài liệu bầu cử sau khi tiếp nhận để phục vụ công tác tra cứu, khai thác, sử dụng về sau, bảo đảm nguyên tắc an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu.
Biên bản kết quả kiểm phiếu của Tổ bầu cử được lập theo mẫu số 18/HĐBC-QH ban hành kèm Nghị quyết số 40/NQ-HĐBCQG ngày 29/9/2025 của Hội đồng bầu cử quốc gia. Việc tổng hợp kết quả kiểm phiếu từ các khu vực bỏ phiếu (bao gồm cả các khu vực bỏ phiếu sớm) do Ban bầu cử thực hiện sau ngày 15/3/2026, trừ trường hợp toàn bộ khu vực bỏ phiếu của một đơn vị bầu cử được cho phép bỏ phiếu sớm và đã hoàn thành việc bỏ phiếu sớm.
Sau khi nhận, kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu của các Tổ bầu cử và giải quyết khiếu nại, tố cáo (nếu có), Ban bầu cử lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình theo mẫu số 19/HĐBC-QH kèm theo Nghị quyết số 40.
Theo khoản 3 Điều 77 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, biên bản xác định kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội được lập thành ba bản, có chữ ký của Trưởng ban, các Phó Trưởng Ban bầu cử. Biên bản được gửi đến Hội đồng bầu cử quốc gia, Ủy ban bầu cử ở tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh chậm nhất là 5 ngày sau bầu cử.
Đối với bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Khoản 4 Điều 77 Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân quy định biên bản xác định kết quả bầu cử được lập thành bốn bản, có chữ ký của Trưởng ban, các Phó Trưởng Ban bầu cử. Biên bản được gửi đến Ủy ban bầu cử cùng cấp, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp chậm nhất là 5 ngày sau ngày bầu cử.
Chiều 16/3, tại Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Đảng bộ Quốc hội nhiệm kỳ 2025 – 2030, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng bầu cử quốc gia Trần Thanh Mẫn cho biết, theo thống kê sơ bộ, số lượng cử tri đi bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026 – 2031 đạt 99,69% và không phải bầu lại ở bất cứ đơn vị bầu cử nào trong cả nước. Các địa phương đang tổng hợp, rà soát kỹ lưỡng để báo cáo Hội đồng bầu cử quốc gia. Dự kiến, ngày 22/3, Hội đồng bầu cử quốc gia sẽ họp để rà soát, sau đó sẽ công bố kết quả bầu cử./.


