Tại Thanh Hóa, cuộc sắp xếp không chỉ nhằm giảm số lượng đầu mối quản lý, mà hướng tới hình thành những cộng đồng có quy mô phù hợp hơn, tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản trị và khơi dậy sức dân trong phát triển.
Sau khi bộ máy chính quyền địa phương được sắp xếp theo hướng tinh gọn, Thanh Hóa tiếp tục thực hiện bước đi quan trọng ở cấp cơ sở, tổ chức lại thôn, bản, tổ dân phố - nơi gần dân nhất, gắn bó trực tiếp với đời sống cộng đồng. Cuộc sắp xếp không chỉ nhằm giảm số lượng đầu mối quản lý, mà hướng tới hình thành những cộng đồng có quy mô phù hợp hơn, tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản trị và khơi dậy sức dân trong phát triển. Tuy nhiên, khi bộ máy cấp xã đã được tinh gọn, một "điểm nghẽn" khác lại hiện rõ, phía dưới mỗi xã, phường vẫn là hàng chục thôn, bản, tổ dân phố với quy mô diện tích và dân số thấp hơn nhiều so với tiêu chuẩn nhưng vẫn tồn tại như những đầu mối quản lý độc lập. Điều đó khiến mục tiêu tinh gọn bộ máy chưa thực sự trọn vẹn nếu mắt xích cuối cùng ở cơ sở chưa được sắp xếp lại.
* Mắt xích cuối cùng cần tinh gọn
Không phải đến năm 2026, Thanh Hóa mới bắt đầu công việc này. Ngay từ giai đoạn 2017-2020, tỉnh đã triển khai sắp xếp thôn, tổ dân phố, giảm từ 5.971 xuống còn 4.351 đơn vị, cắt giảm 1.620 đầu mối. Đây là kết quả quan trọng, góp phần hình thành nhiều thôn, tổ dân phố có quy mô lớn hơn, tạo thuận lợi cho công tác quản lý và tổ chức các hoạt động ở cơ sở.
Tuy nhiên, kết quả rà soát tháng 5/2026, cho thấy yêu cầu tiếp tục sắp xếp vẫn rất cấp thiết. Toàn tỉnh còn 4.351 thôn, tổ dân phố, trong đó có tới 3.146/3.575 thôn, chiếm 88%, có quy mô dưới 350 hộ gia đình; 631/776 tổ dân phố, chiếm 81,31%, có quy mô dưới 450 hộ gia đình; đặc biệt vẫn còn 41 thôn có dưới 50 hộ dân. Những con số ấy cho thấy hệ thống thôn, tổ dân phố vẫn còn nhiều đầu mối nhỏ lẻ, phân tán, chưa theo kịp sự thay đổi về quy mô và yêu cầu quản trị sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp xã.
Phường Hạc Thành là một ví dụ điển hình. Trước khi sắp xếp, địa phương có tới 125 thôn, tổ dân phố. Điều đó đồng nghĩa với việc mọi nhiệm vụ từ cấp ủy, chính quyền đều phải triển khai qua 125 đầu mối; từ công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, tổ chức lấy ý kiến nhân dân đến triển khai các phong trào, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Sau sắp xếp, số lượng thôn, tổ dân phố của phường giảm còn 65, góp phần giảm đáng kể đầu mối quản lý, rút ngắn quá trình điều hành và tăng tính thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Nếu Hạc Thành phản ánh áp lực quản lý ở khu vực đô thị thì xã Hoa Lộc lại là lát cắt điển hình ở địa bàn nông thôn. Trước khi sắp xếp, xã có 40 thôn. Mỗi nhiệm vụ của cấp xã đều phải triển khai đồng thời tới 40 bí thư chi bộ, 40 trưởng thôn cùng hệ thống các tổ chức đoàn thể ở cơ sở. Sau sắp xếp, số lượng thôn giảm còn 15, tương đương giảm 62,5% đầu mối.
Ông Nguyễn Quốc Phương, Phó trưởng phòng Văn hóa, Xã hội xã Hoa Lộc, cho biết việc giảm từ 40 thôn xuống còn 15 thôn đã tạo thuận lợi rất lớn cho công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền xã. Nếu trước đây mỗi chủ trương, nhiệm vụ đều phải triển khai qua nhiều đầu mối thì nay việc quán triệt, tổ chức thực hiện được tiến hành nhanh hơn, thống nhất hơn. Các thôn sau sắp xếp có quy mô dân số và nguồn lực lớn hơn, tạo điều kiện huy động sức dân, tổ chức các phong trào, hoạt động cộng đồng bài bản, hiệu quả hơn, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Từ thực tiễn trên, quán triệt Kết luận số 34-KL/TW ngày 18/5/2026 của Bộ Chính trị, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 1717/QĐ-UBND ngày 9/6/2026 phê duyệt Phương án tổng thể sắp xếp thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh; đồng thời ban hành Chỉ thị số 05/CT-UBND ngày 22/5/2026 về việc sắp xếp thôn, tổ dân phố và bố trí, sử dụng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố. Các văn bản không chỉ xác định lộ trình, mục tiêu và yêu cầu thực hiện mà còn thể hiện rõ quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của tỉnh: Mọi thay đổi về tổ chức phải hướng đến nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở, nhưng không được đánh đổi sự ổn định và tính gắn kết của cộng đồng dân cư.
Theo đó, việc sắp xếp không được thực hiện theo cách "ghép cơ học" những thôn, tổ dân phố chưa đạt tiêu chuẩn. Mỗi phương án đều phải được xem xét toàn diện trên nhiều phương diện: lịch sử hình thành, bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán, điều kiện địa lý, quốc phòng, an ninh, yếu tố dân tộc, tôn giáo và sự gắn kết tự nhiên của cộng đồng.
*Đồng thuận của người dân là thước đo cho các quyết sách
Nếu bài toán của tỉnh là giảm hàng nghìn đầu mối ở cơ sở thì bài toán của mỗi xã, phường lại khác nhau. Có nơi trăn trở giữ lại tên bản đã gắn với nhiều thế hệ và văn hóa bao đời; có nơi phải tính toán vị trí nhà văn hóa để người dân đều thuận đường sinh hoạt; có nơi mạnh dạn trao trách nhiệm cho lớp cán bộ trẻ... Mỗi địa phương một cách làm, nhưng cùng gặp nhau ở một điểm chung: Đặt sự đồng thuận của người dân lên trước khi bắt đầu mọi sự thay đổi.
Ở miền núi Thanh Hóa, tên một bản không đơn thuần là địa danh để phân biệt địa giới. Mỗi tên gọi đều gắn với lịch sử hình thành, tiếng nói, phong tục, tập quán và niềm tự hào của cả một cộng đồng. Bởi vậy, khi nhiều bản được sáp nhập thành một, điều người dân trăn trở là: bản mới sẽ mang tên gì? Đó cũng là bài toán mà cấp ủy, chính quyền xã vùng cao biên giới Sơn Điện phải đối mặt khi triển khai sắp xếp thôn, bản.
Trước khi thực hiện sắp xếp, cả 10 bản của xã đều chưa đạt tiêu chuẩn về quy mô số hộ theo quy định. Quy mô dân cư nhỏ khiến số lượng đầu mối tổ chức nhiều, gia tăng người hoạt động không chuyên trách, tạo áp lực cho ngân sách và hạn chế khả năng huy động nguồn lực phát triển. Vì vậy, việc sắp xếp từ 10 bản xuống còn 5 bản là yêu cầu tất yếu nhằm tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất không nằm ở việc hợp nhất địa giới mà là tạo được sự đồng thuận để người dân coi bản mới là cộng đồng chung của mình.
Theo phương án ban đầu, hai bản Na Nghịu và Na Lộc được đề xuất sáp nhập và giữ tên Na Nghịu. Tuy nhiên, ngay sau các cuộc họp lấy ý kiến nhân dân, nhiều ý kiến bày tỏ băn khoăn. Không chỉ là lựa chọn một tên gọi, đây còn là sự kết nối giữa hai cộng đồng có bản sắc văn hóa khác nhau. Na Nghịu là nơi sinh sống của đồng bào Thái, còn Na Lộc chủ yếu là đồng bào Mường. Mỗi bản đều có lịch sử riêng, gắn với ký ức và đời sống của nhiều thế hệ, nên người dân đều mong muốn tên bản của mình được gìn giữ.
Nhiều phương án được đưa ra như "Tân Na", "Sơn Na" và một số tên gọi khác, song đều chưa tạo được sự đồng thuận. Sau nhiều cuộc họp dân, gặp gỡ già làng, người có uy tín và lắng nghe ý kiến từ cả hai cộng đồng, cấp ủy, chính quyền xã quyết định lựa chọn tên gọi Na. Trong tiếng Thái, "Na" có nghĩa là cánh đồng, ruộng lúa - hình ảnh gắn bó với đời sống của người dân từ bao đời. Quan trọng hơn, chữ "Na" đều hiện diện trong tên gọi của cả Na Nghịu và Na Lộc, trở thành điểm gặp gỡ giữa hai cộng đồng và là biểu tượng của sự đồng thuận sau sắp xếp.
Ông Trịnh Vinh Lực, Bí thư Đảng ủy xã Sơn Điện, cho biết điều địa phương trăn trở nhất không phải là hoàn thành phương án sắp xếp đúng tiến độ, mà là làm sao để đồng bào đều thấy mình được tôn trọng trong cộng đồng mới. Vì vậy, mọi phương án đều được đưa ra lấy ý kiến công khai, lắng nghe đến cùng những băn khoăn của người dân trước khi đi đến thống nhất. Theo ông, với một xã miền núi có nhiều dân tộc cùng sinh sống, tinh gọn bộ máy phải đi cùng với gìn giữ bản sắc văn hóa và củng cố sự đoàn kết của cộng đồng dân cư.
Câu chuyện ở Sơn Điện không phải là trường hợp cá biệt. Tại xã Sơn Thủy, nơi đồng bào Thái, Mường, Mông và Kinh cùng sinh sống, việc lựa chọn tên các bản sau sắp xếp cũng được địa phương cân nhắc kỹ lưỡng. Từ 11 bản được sắp xếp còn 4 bản, nhưng mỗi tên gọi đều được lựa chọn trên cơ sở lịch sử hình thành, yếu tố văn hóa và sự gắn kết tự nhiên của cộng đồng dân cư.
Đáng chú ý, bản Muống được giữ làm tên gọi chung cho bốn bản Muống, Cóc, Hiết và Chanh sau sáp nhập. Theo lãnh đạo xã, đây không chỉ là một tên gọi quen thuộc mà còn gợi nhớ thời kỳ 4 bản cùng thuộc Hợp tác xã Muống trước đây. Việc giữ lại cái tên ấy giúp người dân cảm thấy mình vẫn thuộc về một cộng đồng đã gắn bó từ nhiều thế hệ.
Ông Mạc Văn Tới, Chủ tịch UBND xã Sơn Thủy, cho biết dù mỗi dân tộc có phong tục, tập quán và bản sắc riêng, nhưng qua nhiều thế hệ cùng sinh sống, lao động và xây dựng gia đình, các cộng đồng đã hình thành sự gắn bó tự nhiên. Sau sắp xếp, địa phương tiếp tục quan tâm bảo tồn những nét văn hóa đặc sắc của từng dân tộc, để sự thay đổi về tổ chức hành chính không làm phai nhạt bản sắc văn hóa.
Ở xã Mường Mìn, quy mô sắp xếp không lớn, từ 5 bản còn 4 bản, song địa phương cũng không vì thế mà làm nhanh, làm gọn. Trước khi hoàn thiện phương án sáp nhập bản Luốc Làu và bản Chiềng, xã tổ chức nhiều cuộc họp dân, gặp gỡ già làng, người có uy tín để giải thích chủ trương, lắng nghe ý kiến và tạo sự thống nhất. Với địa bàn vùng cao biên giới, mỗi quyết định đều được cân nhắc trên tinh thần người dân hiểu, người dân đồng thuận rồi mới triển khai.
Đó là câu chuyện ở miền núi, còn ở đồng bằng, tại xã Hoa Lộc, sau khi giảm từ 40 xuống còn 15 thôn, quy mô mỗi thôn đều lớn hơn trước. Một trưởng thôn không còn phụ trách vài trăm hộ dân như trước đây mà phải quản lý địa bàn rộng hơn, dân số đông hơn và khối lượng công việc cũng nhiều hơn. Chính thực tế đó buộc địa phương phải thay đổi cách lựa chọn đội ngũ cán bộ cơ sở.
Ngay sau khi HĐND xã thông qua nghị quyết thành lập 15 thôn mới, xã hoàn thành việc kiện toàn chi ủy, ban quản lý thôn và các chức danh chủ chốt; đồng thời tổ chức quán triệt, giao nhiệm vụ để đội ngũ bí thư chi bộ, trưởng thôn, trưởng ban công tác mặt trận thống nhất phương thức điều hành trước khi chính thức nhận nhiệm vụ từ ngày 1/7.
Tinh thần ấy được thể hiện qua việc nhiều cán bộ trẻ được giao đảm nhiệm các vị trí chủ chốt. Tại thôn Phú Lộc - được thành lập trên cơ sở hợp nhất ba thôn Giữa, Trước và Hậu với gần 900 hộ dân, chị Hoàng Thị Ngọc, sinh năm 1991, được tín nhiệm bầu làm Trưởng thôn. Từng là cán bộ không chuyên trách cấp xã, có trình độ đại học và trung cấp lý luận chính trị, chị hiểu rõ phía trước sẽ là một khối lượng công việc lớn hơn nhiều so với trước đây.
Chị Ngọc chia sẻ, "khi ba thôn trở thành một, trách nhiệm của người đứng đầu cũng lớn hơn. Điều tôi nghĩ nhiều nhất là phải nhanh chóng nắm địa bàn, phối hợp chặt chẽ với chi bộ và các đoàn thể để bộ máy mới vận hành nhịp nhàng ngay từ đầu. Chỉ khi công việc thông suốt thì người dân mới thật sự yên tâm với mô hình mới.
Những thay đổi trên cho thấy việc sắp xếp thôn, bản không chỉ dừng ở việc giảm đầu mối quản lý. Khi người dân đồng thuận, cộng đồng mới được hình thành trên nền tảng văn hóa, lịch sử và sự gắn kết tự nhiên sẽ mở ra điều kiện để tổ chức lại nguồn lực, nâng cao hiệu quả quản trị ở cơ sở. Đó cũng là tiền đề để những thôn, bản, tổ dân phố mới trở thành không gian phát triển mới./.
Bài cuối- Tinh gọn thôn, tổ dân phố: Mở ra không gian phát triển mới
- Từ khóa:
- Tinh gọn
- thôn/tổ dân phố
- gỡ "điểm nghẽn"
- cấp cơ sở



