Với Hà Nội, đường Vành đai 4 mang ý nghĩa đặc biệt bởi đây là tuyến đường vành đai liên vùng, kết nối trực tiếp Thủ đô với Hưng Yên, Bắc Ninh và mạng lưới giao thông quốc gia.
Dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội không chỉ được kỳ vọng giải tỏa áp lực cho hệ thống giao thông hiện hữu mà còn mang sứ mệnh kiến tạo một hành lang kinh tế - đô thị mới, kết nối Hà Nội với Hưng Yên, Bắc Ninh và các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Khi công tác giải phóng mặt bằng cơ bản hoàn thành và các dự án thành phần bước vào giai đoạn tăng tốc, tuyến đường đang dần hiện rõ vai trò là “xương sống” của cấu trúc phát triển mới, mở rộng dư địa tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của Thủ đô.
Từ tuyến đường giao thông đến vành đai kinh tế - đô thị động lực
Trong quá trình phát triển của các đô thị lớn, hệ thống đường vành đai không chỉ thực hiện chức năng phân luồng giao thông mà còn có tác động trực tiếp đến việc tổ chức không gian đô thị, phân bố dân cư và hình thành các trung tâm kinh tế mới. Với Hà Nội, đường Vành đai 4 mang ý nghĩa đặc biệt bởi đây là tuyến đường vành đai liên vùng, kết nối trực tiếp Thủ đô với Hưng Yên, Bắc Ninh và mạng lưới giao thông quốc gia.
Theo quy hoạch, tuyến đường có tổng chiều dài khoảng 112,8km, trong đó đoạn qua địa phận Hà Nội dài hơn 58km; phần còn lại đi qua Hưng Yên, Bắc Ninh và tuyến nối với cao tốc Hà Nội - Hạ Long. Công trình được xác định là một trong những dự án hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia, có vai trò tăng cường kết nối vùng, phát huy hiệu quả các tuyến đường hướng tâm và tạo không gian phát triển mới cho toàn khu vực.
Nếu những tuyến vành đai nằm gần trung tâm chủ yếu thực hiện nhiệm vụ phân luồng, giảm ùn tắc và tổ chức lại giao thông đô thị, Vành đai 4 được định vị ở một tầm vóc rộng hơn. Tuyến đường không chỉ bao quanh khu vực đô thị trung tâm mà còn đi qua những địa bàn có nhiều dư địa phát triển như Mê Linh, Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Oai, Thường Tín và các khu vực tiếp giáp Hưng Yên, Bắc Ninh.
Quy hoạch Thủ đô xác định Vành đai 4 là vành đai kinh tế - đô thị động lực, “xương sống” của không gian phát triển mới; kết nối trực tiếp Hà Nội với Hưng Yên, Bắc Ninh và hình thành các cụm đô thị, logistics hiện đại dọc tuyến. Đây là cơ sở quan trọng để nhìn nhận dự án không đơn thuần là một công trình giao thông mà là một trục tái cấu trúc không gian kinh tế của Thủ đô và toàn vùng.
Trong nhiều năm qua, quá trình đô thị hóa của Hà Nội tập trung mạnh vào khu vực phía trong Vành đai 3 và dọc các tuyến hướng tâm. Sự phát triển này góp phần tạo động lực tăng trưởng nhưng đồng thời làm gia tăng áp lực lên hạ tầng giao thông, hạ tầng xã hội và môi trường đô thị. Nhiều tuyến đường hướng tâm thường xuyên phải tiếp nhận cả dòng phương tiện đi vào trung tâm và dòng phương tiện vận tải liên tỉnh, liên vùng, dẫn tới nguy cơ quá tải.
Khi Vành đai 4 được hoàn thành, một phần lớn phương tiện không có nhu cầu đi vào trung tâm Hà Nội có thể chuyển hướng qua tuyến đường mới. Điều này giúp phân tách dòng giao thông liên vùng với giao thông đô thị, giảm áp lực cho Vành đai 3 và các tuyến xuyên tâm, đồng thời nâng cao hiệu quả kết nối giữa các cao tốc, quốc lộ và khu vực sản xuất, dịch vụ quanh Thủ đô.
Tuy nhiên, giá trị lớn hơn của dự án nằm ở khả năng mở ra một hành lang phát triển mới. Dọc tuyến Vành đai 4 có thể hình thành các trung tâm logistics, khu công nghiệp công nghệ cao, khu đô thị, trung tâm thương mại và dịch vụ cấp vùng. Thay vì tiếp tục dồn các hoạt động kinh tế vào khu vực lõi, Hà Nội có thêm điều kiện tổ chức lại không gian phát triển theo hướng đa cực, đa trung tâm, tạo sự cân bằng giữa khu vực nội đô và vùng ngoại vi.
Tuyến đường cũng mở rộng khả năng liên kết giữa Hà Nội với các trung tâm công nghiệp lớn của Bắc Ninh, Hưng Yên và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Hà Nội có lợi thế về nghiên cứu, đào tạo, tài chính, thương mại và đổi mới sáng tạo; trong khi các địa phương lân cận có thế mạnh về công nghiệp chế biến, chế tạo, điện tử và logistics.
Tăng tốc thi công, hoàn thiện những mắt xích quan trọng
Được khởi công đồng loạt từ tháng 6/2023, Dự án đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô được chia thành các nhóm dự án thành phần, gồm giải phóng mặt bằng, xây dựng đường song hành và đầu tư tuyến cao tốc theo phương thức đối tác công tư. Cách tổ chức này cho phép các địa phương chủ động triển khai phần việc trên địa bàn, đồng thời bảo đảm sự điều phối thống nhất đối với toàn tuyến.
Giải phóng mặt bằng được xác định là nhiệm vụ có tính quyết định. Đến cuối năm 2025, công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn Hà Nội, Hưng Yên và Bắc Ninh đã cơ bản hoàn thành, với khoảng 1.425,82ha trên tổng số 1.426ha đất cần thu hồi, đạt 99,99%. Riêng đoạn qua Hà Nội dài khoảng 59,2km, đi qua 17 xã, phường, với tổng diện tích thu hồi hơn 800ha. Các địa phương đã hoàn thành hệ thống khu tái định cư, di chuyển mộ, đường điện cao thế cùng nhiều công trình ngầm, nổi để phục vụ thi công.
Đến tháng 7/2026, Sở Xây dựng Hà Nội cho biết công tác giải phóng mặt bằng toàn dự án trên địa bàn ba tỉnh, thành phố đã hoàn thành 100%. Các đơn vị tiếp tục xử lý một số hạng mục hạ tầng kỹ thuật và phần diện tích cần thu hồi bổ sung tại các nút giao, nhằm bảo đảm mặt bằng thi công đồng bộ.
Kết quả này cho thấy sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, đồng thời phản ánh mức độ đồng thuận của người dân đối với một dự án có ý nghĩa lớn. Việc Hà Nội và các địa phương hoàn thành khối lượng giải phóng mặt bằng rất lớn trong thời gian tương đối ngắn là điều kiện quan trọng để chuyển trọng tâm từ công tác chuẩn bị sang tổ chức thi công trên toàn tuyến.
Trên địa bàn Hà Nội, các gói thầu xây dựng đường song hành, cầu, cống và hạ tầng kỹ thuật đã được triển khai tại nhiều vị trí. Đối với phần tuyến cao tốc và các công trình lớn, các nhà thầu tiếp tục huy động nhân lực, thiết bị, tổ chức thi công đồng bộ nhằm bảo đảm tiến độ chung.
Tháng 5/2026, báo cáo của Hà Nội cho thấy toàn dự án có 15 gói thầu, trong đó 12 gói đã triển khai; ba gói thuộc phần BOT đang hoàn thiện thủ tục lựa chọn nhà thầu. Tại Hưng Yên, công tác giải phóng mặt bằng đã hoàn thành, các hạng mục đường song hành đạt khoảng 80% tiến độ; ở Bắc Ninh, phần lớn mặt bằng đã được bàn giao, nhiều hạng mục nền đường và khu tái định cư được triển khai.
Các khó khăn hiện nay không còn tập trung chủ yếu ở giải phóng mặt bằng mà chuyển sang công tác tổ chức thi công, điều phối nguồn vật liệu, nhân lực, thiết bị và nguồn vốn. Yếu tố thời tiết, biến động giá vật liệu, chi phí nhiên liệu và khả năng cung ứng nhân lực kỹ thuật đều có thể tác động trực tiếp đến tiến độ và hiệu quả dự án.
Bên cạnh đó, Vành đai 4 có nhiều công trình quy mô lớn như cầu Hồng Hà, cầu Hoài Thượng, các nút giao liên thông và hệ thống đường dẫn. Việc thi công các hạng mục này đòi hỏi yêu cầu kỹ thuật cao, quy trình kiểm soát chặt chẽ và sự phối hợp giữa các đơn vị quản lý giao thông, đê điều, điện lực, môi trường và chính quyền địa phương.
Trong quá trình chỉ đạo, Chính phủ và thành phố Hà Nội đều yêu cầu đẩy nhanh tiến độ nhưng không đánh đổi chất lượng, an toàn và hiệu quả đầu tư. Nhà thầu phải tổ chức thi công quyết liệt, đồng bộ, đồng thời bảo đảm yêu cầu kỹ thuật, mỹ thuật, an toàn lao động, phòng, chống tham nhũng, lãng phí và thất thoát tài sản.
Mở không gian phát triển nhưng phải kiểm soát quy hoạch
Một trong những tác động dễ nhận thấy của các dự án giao thông lớn là sự gia tăng giá trị đất đai tại khu vực phụ cận. Vành đai 4 đi qua nhiều địa bàn có quỹ đất lớn, tạo điều kiện phát triển đô thị, công nghiệp, logistics và dịch vụ. Đây là nguồn lực quan trọng, nhưng nếu không được quy hoạch và quản lý chặt chẽ, lợi thế hạ tầng có thể dẫn tới phát triển tự phát, đầu cơ đất đai, gia tăng áp lực lên hạ tầng xã hội và phá vỡ cấu trúc không gian.
Theo dự thảo đề án khai thác quỹ đất vùng phụ cận Vành đai 4, khu vực nghiên cứu trên địa bàn Hà Nội có diện tích khoảng 18.450ha, trong đó diện tích có thể khai thác khoảng 8.725,5ha. Việc khai thác nguồn lực đất đai được đặt trong mục tiêu tạo vốn phát triển kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
Quỹ đất này có thể mang lại nguồn lực lớn cho thành phố, nhưng việc khai thác cần được thực hiện trên cơ sở quy hoạch, công khai, minh bạch và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp. Phát triển đô thị dọc tuyến không thể chỉ chạy theo giá trị thương mại ngắn hạn mà phải gắn với hệ thống giao thông công cộng, trường học, bệnh viện, không gian xanh, hạ tầng cấp thoát nước và các dịch vụ thiết yếu.
Yêu cầu đặt ra là phải chuyển từ tư duy “làm đường đến đâu, phát triển dự án đến đó” sang cách tiếp cận tích hợp giữa giao thông, sử dụng đất và tổ chức không gian. Vành đai 4 cần được xem là một hành lang phát triển được quy hoạch tổng thể, với hệ thống đô thị, công nghiệp, logistics và dịch vụ được bố trí phù hợp với khả năng chịu tải của hạ tầng và định hướng phát triển bền vững.
Đồng thời, thành phố cần kiểm soát chặt các khu vực nút giao, nơi có khả năng thu hút đầu tư và gia tăng mật độ xây dựng nhanh nhất. Nếu các nút giao chỉ trở thành điểm tập trung dự án bất động sản mà thiếu hạ tầng kết nối, bãi đỗ xe, giao thông công cộng và dịch vụ xã hội, áp lực ùn tắc có thể được chuyển từ khu vực trung tâm sang các vành đai mới.
Ngược lại, nếu được tổ chức tốt, các nút giao Vành đai 4 có thể phát triển thành các trung tâm logistics, thương mại và dịch vụ cấp vùng, kết nối với mạng lưới đường sắt, đường bộ cao tốc, sân bay và các khu công nghiệp. Đây sẽ là nền tảng để Hà Nội hình thành những cực tăng trưởng mới, phân bố lại việc làm và dân cư, giảm các chuyến đi xuyên tâm và cải thiện hiệu quả vận hành đô thị.
Vành đai 4 vì thế không chỉ là tuyến đường bao quanh Hà Nội. Đây là vành đai kinh tế - đô thị, là động lực liên kết vùng và là một trong những nền tảng quan trọng để Thủ đô mở rộng không gian phát triển, giảm áp lực cho khu vực nội đô, thu hút nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh trong giai đoạn mới.
- Từ khóa:
- Vành đai 4
- động lực
- liên kết vùng
- phát triển
- Thủ đô


