Việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế góp phần nâng cao đời sống cộng đồng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế xanh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững tại Vườn quốc gia Xuân Thủy.
Nằm ở cửa Ba Lạt, nơi hạ lưu sông Hồng đổ ra biển, Vườn quốc gia Xuân Thủy, tỉnh Ninh Bình là vùng đất ngập nước có giá trị sinh thái đặc biệt của tỉnh Ninh Bình, khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam. Nơi đây có giá trị nổi bật về đa dạng sinh học, góp phần tạo sinh kế cho hàng nghìn lao động địa phương thông qua nuôi trồng, khai thác thủy sản và dịch vụ gắn với hệ sinh thái rừng ngập mặn, hướng tới mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững.
Mưu sinh nơi cửa biển
Khu vực ven Vườn quốc gia Xuân Thủy từ lâu đã trở thành nguồn sinh kế quan trọng của nhiều hộ dân địa phương. Nhờ những lợi thế từ hệ sinh thái đất ngập nước, rừng ngập mặn và nguồn lợi thủy sản phong phú, người dân nơi đây đã phát triển nhiều mô hình sản xuất phù hợp với điều kiện tự nhiên, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.
Gia đình anh Trịnh Văn Đoàn, xã Giao Minh đã nhiều năm gắn bó với vùng đệm của Vườn quốc gia Xuân Thủy. Hơn 30 năm sinh sống tại khu vực này, gia đình anh hiện quản lý và khai thác 7,5 ha diện tích nuôi trồng thủy sản theo hình thức quảng canh kết hợp. Trên diện tích đầm bãi rộng lớn, anh nuôi tôm sú quảng canh, cua rèm, khai thác các loài thủy sản tự nhiên như tôm rát, tôm rảo đất. Mô hình nuôi quảng canh tận dụng được điều kiện tự nhiên của vùng đất ngập nước, giảm chi phí đầu tư, hạn chế sử dụng thức ăn công nghiệp và hóa chất. Nhờ môi trường sinh thái được bảo vệ tốt, nguồn nước ổn định, thủy sản phát triển thuận lợi mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Mỗi năm, sau khi trừ chi phí sản xuất, gia đình thu lãi hàng trăm triệu đồng.
Không chỉ phát triển nghề nuôi trồng thủy sản, nhiều hộ dân còn tìm hướng đi mới từ các sản phẩm sinh thái đặc trưng của vùng đất ngập nước. Nghề nuôi ong lấy mật dưới tán rừng ngập mặn là một mô hình mang lại hiệu quả kinh tế cao và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái. Tại khu vực ven Vườn quốc gia Xuân Thủy, anh Phạm Thanh Sơn, xã Xuân Hồng hiện duy trì khoảng 380 đàn ong mật. Gắn bó với nghề từ năm 1996, anh là một trong những người tiên phong phát triển nghề nuôi ong tại địa phương. Nhờ nguồn hoa tự nhiên phong phú từ hệ sinh thái rừng ngập mặn, đàn ong sinh trưởng tốt, cho chất lượng mật đặc trưng. Mỗi năm, gia đình anh cung cấp ra thị trường từ 16 - 20 tấn mật ong. Sản phẩm được tiêu thụ tại nhiều địa phương và trở thành nguồn thu nhập chính của gia đình. Anh Phạm Thanh Sơn chia sẻ, nghề nuôi ong phụ thuộc rất nhiều vào môi trường tự nhiên, đặc biệt là hệ sinh thái rừng ngập mặn. Khi rừng được bảo vệ tốt, nguồn hoa dồi dào thì đàn ong phát triển khỏe mạnh, cho sản lượng và chất lượng mật cao.
Nghề nuôi ong không chỉ mang lại thu nhập ổn định mà còn giúp người dân ý thức hơn trong việc bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên thiên nhiên của địa phương. Khu vực ven Vườn quốc gia Xuân Thủy hiện có hơn 20 hộ nuôi ong với gần 6.000 đàn, sản lượng mật đạt 120 tấn/vụ, thu nhập bình quân trên 1 triệu đồng/đàn/năm. Nhiều hộ nuôi quy mô lớn từ 300 - 500 đàn đã tạo việc làm ổn định cho lao động địa phương.
Ông Nguyễn Viết Sự, Phó Chủ tịch UBND xã Giao Minh đánh giá, các mô hình sinh kế dựa vào hệ sinh thái đất ngập nước đang tạo việc làm và thu nhập ổn định cho nhiều hộ dân. Thời gian qua, địa phương phối hợp với Vườn quốc gia Xuân Thủy đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn người dân phát triển sản xuất theo hướng bền vững, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Địa phương khuyến khích người dân áp dụng mô hình sản xuất thân thiện với môi trường, khai thác hợp lý nguồn lợi tự nhiên và nâng cao nhận thức về bảo tồn đa dạng sinh học.
Giữ rừng, giữ sinh kế
Là khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á, Vườn quốc gia Xuân Thủy sở hữu hệ sinh thái đất ngập nước cửa sông ven biển đặc trưng với những cánh rừng ngập mặn rộng lớn, các bãi bồi giàu nguồn lợi thủy sản và môi trường sống của hàng trăm loài động, thực vật quý hiếm, là nền tảng sinh kế của hàng nghìn hộ dân sống trong vùng đệm và khu vực ven biển.
Ban Quản lý Vườn quốc gia Xuân Thủy thông tin, nhiều năm qua, áp lực từ khai thác tài nguyên, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan đã đặt ra không ít thách thức đối với công tác bảo tồn. Đơn vị xác định bảo tồn thiên nhiên không thể tách rời đời sống của cộng đồng địa phương mà cần tạo ra sự gắn kết hài hòa giữa mục tiêu bảo vệ hệ sinh thái và phát triển kinh tế. Vườn đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ sinh kế cho người dân vùng đệm, khuyến khích phát triển các mô hình sản xuất thân thiện với môi trường như nuôi trồng thủy sản quảng canh, nuôi ong dưới tán rừng ngập mặn, khai thác thủy sản theo mùa vụ, phát triển du lịch sinh thái và các hoạt động dịch vụ gắn với bảo tồn thiên nhiên… Các mô hình này vừa tạo nguồn thu nhập ổn định cho người dân vừa góp phần giảm áp lực khai thác quá mức đối với tài nguyên trong vùng lõi của Vườn.
Việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng cũng được chú trọng. Nhiều chương trình truyền thông về bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn chim di cư, phòng chống khai thác thủy sản trái phép và bảo vệ rừng ngập mặn được tổ chức thường xuyên tại các địa phương trong vùng đệm. Thông qua các hoạt động này, người dân ngày càng hiểu rõ hơn vai trò của hệ sinh thái đất ngập nước đối với phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.
Ông Phạm Vũ Ánh, Phó Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy nhấn mạnh: Vườn luôn xác định người dân chính là lực lượng trực tiếp gắn bó với tài nguyên thiên nhiên mỗi ngày, vì vậy công tác bảo tồn chỉ thực sự thành công khi cộng đồng nhận thấy những lợi ích thiết thực từ việc bảo vệ rừng và các hệ sinh thái tự nhiên. Khi sinh kế của người dân được đảm bảo, công tác bảo tồn cũng nhận được sự đồng thuận cao hơn từ cộng đồng. Đây là yếu tố quan trọng giúp Vườn quốc gia Xuân Thủy duy trì và phát huy các giá trị sinh thái đặc biệt của vùng đất ngập nước cửa sông ven biển, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế xanh và bền vững trong tương lai.
Giữa những cánh rừng ngập mặn và bãi bồi cửa Ba Lạt, người dân địa phương vẫn bền bỉ mưu sinh từ các nguồn lợi tự nhiên gắn với hệ sinh thái đất ngập nước. Việc kết hợp hài hòa giữa bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển sinh kế góp phần nâng cao đời sống cộng đồng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế xanh, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững tại Vườn quốc gia Xuân Thủy./.



