“Nghi lễ truyền thống trong đám cưới của người Dao Tiền” đã được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2964/QĐ-BVHTTDL ngày 27/8/2019.
Dân tộc Dao hiện có 7 nhóm khác nhau. Hòa cùng dòng chảy của thời gian, bà con vẫn lưu giữ các nghi lễ tín ngưỡng, phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc.
Hiện nay, đồng bào Dao còn duy trì các nghi lễ tín ngưỡng truyền thống, như: Lễ Cấp sắc, tết nhảy, cúng tạ ơn, lễ đưa dâu và nhập khẩu cô dâu… Mỗi nghi lễ được thực hiện bởi nhiều hoạt động, nghi thức, ý nghĩa khác nhau. Trong đó, lễ Cấp sắc là thủ tục không thể thiếu của người đàn ông dân tộc Dao, được cấp sắc mới được coi là người đàn ông trưởng thành và có đủ quyền tham gia các công việc của gia đình, của bản.
Tiếng nói của người Dao tiền có sự khác biệt với các nhóm Dao khác nên khi đọc chữ Nôm hoặc hát dân ca trong các nghi lễ tín ngưỡng và trong đời sống sinh hoạt đời thường cũng có sự khác biệt… Những năm gần đây, để bảo tồn vốn tri thức quý giá của dân tộc, không ít già làng, người có uy tín, người am hiểu về dân ca trong cộng đồng dân tộc Dao tiền trên địa bàn tỉnh đã liên kết tổ chức dạy chữ nôm và dạy hát dân ca Dao. Các lớp học đã thu hút bà con đồng bào Dao từ 10 tuổi đến 70 tuổi tham gia.
Dân tộc Dao có 7 nhóm, nhưng chỉ có duy nhất nhóm người Dao tiền là mặc váy. Trang phục truyền thống của dân tộc Dao tiền gồm: Khăn vấn đầu, dây lưng, áo và váy. Áo không có cúc mà xẻ tà và quấn dây lưng; cổ áo phía sau được sâu 6 đồng bạc trắng, đây là đặc trưng riêng của nhóm người Dao tiền. Dây lưng được dệt bằng chỉ màu, trong đó dây lưng nam có họa tiết màu đen pha trắng; dây lưng nữ có họa tiết màu đỏ pha trắng, thể hiện sự gắn kết trong mối quan hệ của nam, nữ.
Nghi lễ cưới truyền thống của người Dao Tiền ở bản Sưng, xã Cao Sơn (huyện Đà Bắc, Hòa Bình cũ, nay thuộc tỉnh Phú Thọ) là một trong những nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc, phản ánh sâu sắc đời sống tinh thần, tín ngưỡng và đạo lý của cộng đồng.
Lễ cưới của người Dao Tiền gồm nhiều nghi thức, được tiến hành công phu, thể hiện sự chu đáo và kính trọng tổ tiên. Trước hết là lễ dạm hỏi, trong đó thầy cúng xem tuổi của đôi trai gái để xác định sự hòa hợp. Nếu hợp tuổi, chàng trai có thể sang giúp việc nhà gái, đó như là một cách “trả ơn công dưỡng dục” cha mẹ vợ, đồng thời để hai bên hiểu nhau hơn trước khi nên duyên.
Sau đó là 3 nghi lễ chính: Lễ xin dâu, lễ cắt khẩu và lễ nhập khẩu cho cô dâu, chủ yếu diễn ra tại nhà gái. Mỗi nghi lễ là một bước chuyển quan trọng, đánh dấu hành trình từ người con trong gia đình cha mẹ đẻ sang thành dâu con của nhà chồng.
Nét văn hóa đặc sắc trong lễ cưới của người Dao Tiền là tục “ngủ mơ”. Nhà trai cử một ông mối, một bà mối cùng cô gái nhỏ trong họ (từ 6 đến 15 tuổi) sang nhà gái để “ngủ mơ” với niềm tin rằng giấc mơ trong đêm sẽ báo điềm lành hay dữ cho cuộc hôn nhân sắp tới. Dù ngày nay tục lệ này chỉ còn mang tính hình thức nhưng nó vẫn được duy trì như một biểu tượng văn hóa đẹp, gắn kết hai họ trong không khí trang trọng và linh thiêng.
Sau tục "ngủ mơ", lễ rước dâu bắt đầu. Cô dâu được các bà, cô, chị trong họ mặc cho nhiều lớp váy áo truyền thống, có khi lên đến hàng chục bộ. Người Dao Tiền quan niệm, cô dâu càng được nhiều người mặc áo cho thì càng được yêu quý, phù hộ và che chở khỏi điều xấu trên đường về nhà chồng. Mỗi tấm áo, mỗi lớp vải là một lời chúc phúc, một sự gửi gắm tình thương của họ hàng.
Một nghi thức mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc của người Dao Tiền trong lễ cưới là khi bà mối rửa tay cho cô dâu bằng chậu nước đặt trước bếp thổ công, hàm ý cô dâu từ nay đã là người của nhà chồng, biết vun vén, chăm lo cho tổ ấm. Sau đó, cô dâu nhận một đồng tiền đặt vào giữa bếp, như lời “trình diện” với thổ công, thổ địa.
Buổi tối, tại nhà gái diễn ra lễ cắt khẩu, một nghi thức quan trọng trong hệ thống nghi lễ cưới của người Dao Tiền. Nhà trai dâng lễ vật gồm thịt lợn, bánh, rượu, gà, muối… được sắp xếp theo quy tắc nghiêm ngặt để dâng lên tổ tiên. Sau khi lễ vật được nhà gái kiểm tra đầy đủ, thầy cúng làm lễ “cắt khẩu”, chính thức chuyển phần âm, tức “danh vị” của cô dâu sang nhà chồng.
Trong không khí linh thiêng, chú rể mặc trang phục truyền thống, dâng rượu và lạy 12 lạy trước tổ tiên bên nhà gái để xin đón dâu. Nhà gái trao “nhân khẩu” của cô dâu cho nhà trai, tượng trưng bằng hai túm thịt sống và hai bát rượu, cùng những lời dặn dò ân cần về đạo làm rể, cách ăn ở, đối nhân xử thế.
Khi tin báo “cắt khẩu” được gửi về, nhà trai làm lễ nhập khẩu cho cô dâu. Thầy cúng khấn báo với tổ tiên xin phép đón nhận người con dâu mới, cầu mong cuộc sống vợ chồng hòa thuận, con cháu đề huề. Lễ nhập khẩu cũng là nghi thức cuối cùng, khép lại đám cưới trong niềm vui sum vầy.
Khoảng một tháng sau lễ cưới, đôi vợ chồng trẻ cùng cha mẹ chú rể thực hiện lễ lại mặt, mang lễ vật về thăm nhà gái, cảm ơn cha mẹ, báo tin con rể, con gái đã nên duyên hạnh phúc. Nhà gái tổ chức lễ cúng tổ tiên, trao lại giấy khai sinh của cô dâu cho nhà trai hoàn tất, chu trình nghi lễ.
Với những giá trị nổi bật về lịch sử, văn hóa và nghệ thuật dân gian, “Nghi lễ truyền thống trong đám cưới của người Dao Tiền” đã được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 2964/QĐ-BVHTTDL ngày 27/8/2019. Đây không chỉ là niềm tự hào của người Dao Tiền ở Bản Sưng xã Cao Sơn mà còn là minh chứng sinh động cho sự phong phú của kho tàng văn hóa dân tộc Việt Nam, nơi những giá trị truyền thống vẫn tiếp tục được lưu giữ, lan tỏa và hồi sinh trong thời đại mới…/.
(Bài viết có sự phối hợp thực hiện của Vụ Pháp chế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch)
- Từ khóa:
- Đám cưới
- người Dao Tiền
- Phú Thọ




