Chính sách và phát triển

Nhận diện động lực tăng trưởng mới của Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi

Các chuyên gia đề xuất năm chuyển đổi chiến lược đối với Việt Nam về năng suất, nguồn nhân lực, năng lực công nghiệp trong nước, vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và chất lượng thể chế.

Các chuyên gia trong nước và quốc tế tham dự hội thảo. 
Ảnh: TTXVN phát

Chiều 26/8, tại Hà Nội, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế (CIAT) tổ chức Hội thảo quốc tế về Kinh tế phát triển lần thứ nhất với chủ đề “Phát triển kinh tế và chuyển đổi bền vững” (EDAST 2026).

Hội thảo quy tụ các nhà khoa học, chuyên gia, nhà hoạch định chính sách, đại diện tổ chức quốc tế và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước; tập trung thảo luận những động lực tăng trưởng mới, các điểm nghẽn và giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển của Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và những biến động của kinh tế toàn cầu.

Phát biểu khai mạc, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Khắc Lịch, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, những quan niệm truyền thống về phát triển đang được xem xét lại trước tác động của biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, chuyển dịch năng lượng, già hóa dân số, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, trí tuệ nhân tạo cũng như những biến động của thương mại và chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, vấn đề đối với các nền kinh tế đang phát triển không chỉ là làm thế nào để tăng trưởng nhanh hơn mà còn phải tăng trưởng tốt hơn và bền vững hơn. Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Khắc Lịch, tăng trưởng cần dựa trên năng suất lao động, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; sử dụng hiệu quả tài nguyên, nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu và bảo đảm thành quả phát triển được chia sẻ rộng rãi.

Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Khắc Lịch, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội phát biểu khai mạc. 
Ảnh: TTXVN phát

Đối với Việt Nam, sau bốn thập niên đổi mới, yêu cầu đặt ra trong giai đoạn phát triển mới ngày càng cao. Mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 và cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 đòi hỏi Việt Nam không chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng mà còn phải thực hiện những chuyển đổi căn bản về mô hình tăng trưởng, cơ cấu kinh tế, công nghệ, nguồn nhân lực, quản trị tài nguyên và chất lượng thể chế.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Hoàng Khắc Lịch, với vai trò là trường đại học định hướng nghiên cứu, Trường Đại học Kinh tế xác định nghiên cứu kinh tế không chỉ nhằm giải thích các vấn đề phát triển mà cần góp phần đề xuất giải pháp, cung cấp bằng chứng khoa học và tạo không gian đối thoại chính sách phục vụ phát triển đất nước.

Nhà trường kỳ vọng hội thảo từng bước trở thành diễn đàn thường niên về kinh tế phát triển và chuyển đổi bền vững, kết nối các nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách, doanh nghiệp và các đối tác phát triển để chia sẻ kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm quốc tế và thảo luận những giải pháp có khả năng áp dụng vào thực tiễn Việt Nam.

Tại Hội thảo, các chuyên gia tập trung phân tích kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trong quá trình chuyển đổi mô hình phát triển.

Từ kinh nghiệm bốn giai đoạn công nghiệp hóa của Hàn Quốc, các tham luận chỉ ra sáu rủi ro cấu trúc Việt Nam cần lưu ý, gồm: năng suất có dấu hiệu chững lại, dân số già hóa, thiếu hụt nhân lực chất lượng cao, năng lực của doanh nghiệp trong nước còn yếu, năng lực đổi mới sáng tạo hạn chế và chất lượng thể chế chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Trên cơ sở đó, các chuyên gia đề xuất năm chuyển đổi chiến lược đối với Việt Nam về năng suất, nguồn nhân lực, năng lực công nghiệp trong nước, vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu và chất lượng thể chế.

Một nội dung khác được tập trung thảo luận là quản trị tài nguyên và nguồn lực phục vụ phát triển bền vững. Các chuyên gia cho rằng, nguồn tài nguyên từ khoáng sản thiết yếu đến vốn tự nhiên như nước, đất và carbon chỉ có thể trở thành nguồn lực phát triển bền vững khi được quản trị minh bạch, hạch toán đầy đủ và gắn với các trụ cột tài khóa, thể chế phù hợp với quá trình chuyển đổi năng lượng toàn cầu.

Phân tích mối liên hệ giữa hệ thống lương thực, thực phẩm với khí hậu và đa dạng sinh học, các chuyên gia nhấn mạnh yêu cầu tăng cường phối hợp giữa các chính sách thay vì triển khai riêng rẽ. Việt Nam được đánh giá là một trong số ít quốc gia đã cụ thể hóa cam kết về chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm bằng thể chế. Sau ba năm triển khai, Đối tác chuyển đổi hệ thống lương thực, thực phẩm đã quy tụ hơn 49 đối tác trong và ngoài nước, với hơn 260 hoạt động được triển khai trong giai đoạn 2023-2026, trong đó Sơn La và Đồng Tháp là hai tỉnh tiên phong thí điểm ở cấp địa phương.

Trong khuôn khổ hội thảo, các đại biểu cũng tham gia tọa đàm bàn tròn với đại diện Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội; Đại học Quốc gia Pusan (Hàn Quốc); Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Trung tâm Nông nghiệp Nhiệt đới Quốc tế; Đại học Cabuyao (Philippines) và Đại học Wageningen (Hà Lan).

Đặc biệt, Hội thảo lần này là một trong những hoạt động học thuật gắn với việc tuyển chọn, tổng hợp các bài báo khoa học cho ấn phẩm “Climate Change and the Transformation of Vietnam’s Development Model - Proceedings of EDAST 2026” do Springer xuất bản và được lập chỉ mục trên hệ thống Scopus. Qua đó, góp phần lan tỏa các kết quả nghiên cứu về chuyển đổi mô hình phát triển của Việt Nam tới cộng đồng khoa học quốc tế./.


Việt Hà

Xem thêm