Giáo dục

Tăng tốc chuẩn bị nguồn nhân lực cho kỷ nguyên số

Việc triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo ghi nhận nhiều hoạt động tập trung vào chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), giáo dục STEM, hợp tác quốc tế và chuẩn hóa đào tạo nhân lực công nghệ.

Các định hướng lớn đang từng bước được cụ thể hóa thành quy định, chuẩn đào tạo và cơ chế kết nối giữa nhà trường với doanh nghiệp, đối tác quốc tế.

*Hình thành năng lực công nghệ ngay từ phổ thông

Học sinh trường Mầm non Hồng Nhung (phường Trần Hưng Đạo, tỉnh Hưng Yên) khám phá và sáng tạo với mô hình "Cây tưới nước tự động". 
Ảnh: Thu Hoài - TTXVN

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 86/2026/TT-BGDĐT quy định về tổ chức hoạt động giáo dục tích hợp khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (STEM) trong giáo dục phổ thông.

Theo quy định mới, giáo dục STEM không hình thành thêm môn học, thời lượng bắt buộc, đầu điểm hay hồ sơ, sổ sách riêng mà được tích hợp vào các môn học và hoạt động giáo dục hiện có, gắn với thực hành, khám phá khoa học, thiết kế kỹ thuật và giải quyết các vấn đề thực tiễn.

Nội dung STEM được thiết kế theo hướng tăng dần năng lực công nghệ qua từng cấp học. Học sinh Tiểu học bước đầu làm quen với thiết bị số và lập trình trực quan; học sinh Trung học cơ sở tiếp cận thiết kế kỹ thuật, đo lường, xử lý dữ liệu và lập trình điều khiển; ở Trung học phổ thông, học sinh có thể tiếp cận hệ thống nhúng, Internet vạn vật (IoT), khoa học dữ liệu và AI ở mức độ phù hợp.

Một điểm đáng chú ý là trách nhiệm khi sử dụng AI trong hoạt động STEM được quy định cụ thể hơn. Học sinh phải kiểm chứng thông tin, chịu trách nhiệm về sản phẩm và nêu rõ mức độ, cách thức sử dụng AI; giáo viên chịu trách nhiệm chuyên môn cuối cùng đối với nội dung có AI hỗ trợ; nhà trường chịu trách nhiệm lựa chọn nền tảng, quản trị tài khoản và bảo vệ dữ liệu cá nhân của học sinh.

Cùng hướng này, Quy chế Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh Trung học cơ sở và Trung học phổ thông ban hành theo Thông tư số 84/2026/TT-BGDĐT bổ sung các yêu cầu về liêm chính khoa học trong môi trường số.

Theo đó, học sinh phải lưu giữ nhật ký nghiên cứu, dữ liệu gốc, tài liệu, hình ảnh, video liên quan đến quá trình thực hiện dự án; việc sử dụng công nghệ số và AI phải được khai báo. Nhật ký nghiên cứu và dữ liệu gốc trở thành căn cứ xác định mức độ tham gia thực chất của học sinh, phân biệt với vai trò hỗ trợ của giáo viên, chuyên gia, nhà khoa học.

Những quy định mới cho thấy, việc đưa AI vào trường học đang chuyển từ khuyến khích ứng dụng sang đặt ra yêu cầu về năng lực sử dụng công nghệ có trách nhiệm, minh bạch và kiểm chứng được; đồng thời, cụ thể hóa yêu cầu tăng cường giáo dục STEM, phát triển năng lực số, AI cho người học.

Ở bậc đại học, những báo cáo được công bố trong tuần cho thấy một vấn đề khác: mức độ đầu tư công nghệ tăng nhanh chưa đồng nghĩa với năng lực của người học đã đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động.

Nghiên cứu về mức độ sẵn sàng cho AI do Pearson phối hợp Amazon Web Services (AWS) thực hiện tại Việt Nam với 50 cơ sở giáo dục đại học, 51 doanh nghiệp cùng các cuộc phỏng vấn chuyên sâu cho thấy, 96% lãnh đạo cơ sở giáo dục đại học được khảo sát cho biết đơn vị đang đầu tư vào AI. Tuy nhiên, chỉ 15% nhà tuyển dụng đánh giá nhân sự mới tốt nghiệp đạt mức "xuất sắc" ở các năng lực then chốt trong môi trường làm việc tích hợp AI. Trong khi đó, hơn 52% sinh viên tự đánh giá có mức độ sẵn sàng cao để làm việc trong môi trường có AI.

Đây là kết quả khảo sát, không phải số liệu thống kê đại diện cho toàn bộ hệ thống giáo dục đại học, nhưng có thể thấy khoảng cách giữa mức độ đầu tư của nhà trường, sự tự tin của người học và đánh giá từ phía sử dụng lao động.

Bức tranh này được thể hiện cụ thể hơn trong Báo cáo Nâng tầm Nhân lực Việt Nam 2026 do Trường Đại học Anh Quốc Việt Nam (BUV) phối hợp với Decision Lab công bố trên cơ sở khảo sát 375 doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Trong 7 nhóm năng lực được đánh giá, năng lực áp dụng công nghệ là nhóm duy nhất sinh viên mới tốt nghiệp nhìn chung đáp ứng kỳ vọng của doanh nghiệp. Cả 7 nhóm năng lực đều được từ 74-86% nhà tuyển dụng coi là quan trọng, nhưng 6 nhóm vẫn có khoảng cách giữa yêu cầu và năng lực thể hiện trong thực tế.

Sức ép đối với năng lực số tiếp tục gia tăng khi tiêu chí tuyển dụng thay đổi nhanh. Có tới 94% nhà tuyển dụng cho biết đã nâng yêu cầu về năng lực số và AI đối với sinh viên mới tốt nghiệp trong 2-3 năm qua; 83% cho biết AI đã hoặc đang bắt đầu làm thay đổi tiêu chí tuyển dụng.

Đặc biệt, doanh nghiệp không đặt trọng tâm vào kỹ năng lập trình: chỉ 3% kỳ vọng năng lực này, trong khi 79% muốn tân cử nhân có khả năng sử dụng thành thạo các công cụ AI hoặc ứng dụng AI để giải quyết vấn đề thực tế trong công việc.

Những số liệu trên đặt ra yêu cầu đối với giáo dục đại học không chỉ tăng số chương trình, học phần hoặc công cụ AI mà cần chú trọng hơn đến năng lực ứng dụng. Người học cần biết lựa chọn công cụ phù hợp, sử dụng AI để giải quyết vấn đề nghề nghiệp, kiểm chứng kết quả và chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình.

*Bốn ưu tiên cho chuyển đổi giáo dục trong kỷ nguyên số

Hội nghị quốc tế về hợp tác giáo dục trong kỷ nguyên số đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức trong hai ngày 8-9/10 tại Hà Nội, với gần 1.000 đại biểu đến từ 40 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Hội nghị diễn ra trong bối cảnh ngành Giáo dục triển khai đồng thời Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 57-NQ/TW về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới.

Tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nêu bốn ưu tiên của giáo dục Việt Nam trong kỷ nguyên số.

Thứ nhất, xây dựng nền tảng dữ liệu và hạ tầng số thống nhất, an toàn, kết nối và sử dụng chung; biến dữ liệu thành nguồn lực phục vụ người học, nhà giáo và quản trị giáo dục, đồng thời phát triển nền tảng giáo dục thông minh quốc gia.

Thứ hai, đổi mới dạy và học, phát triển năng lực làm chủ công nghệ của cả người học và nhà giáo. Năng lực số và năng lực AI cần trở thành một phần trong quá trình phát triển nghề nghiệp thường xuyên của giáo viên. Mục tiêu không phải để AI suy nghĩ thay con người mà giúp con người học tốt hơn, sáng tạo hơn và tạo ra giá trị cao hơn.

Thứ ba, đổi mới quản trị, thúc đẩy ứng dụng AI an toàn, minh bạch và có trách nhiệm; bảo đảm quyền riêng tư, bản quyền, liêm chính học thuật và quyền lợi của người học.

Thứ tư, coi hợp tác quốc tế là yêu cầu cấp bách và nguồn lực trực tiếp cho đổi mới giáo dục. Việt Nam hướng tới các chương trình hợp tác cụ thể về dữ liệu giáo dục, ứng dụng AI trong dạy học, đánh giá và quản trị, bồi dưỡng giáo viên cũng như xây dựng các chuẩn mực về đạo đức, an toàn và trách nhiệm.

Một kết quả cụ thể tại hội nghị là 24 biên bản ghi nhớ hợp tác được ký kết và trao, gồm một bản ghi nhớ cấp Chính phủ giữa Việt Nam và Vương quốc Anh, 6 văn bản cấp cục và 17 thỏa thuận giữa các cơ sở giáo dục, doanh nghiệp, tổ chức trong nước với đối tác quốc tế. Nội dung tập trung vào đào tạo, nghiên cứu khoa học, phát triển nguồn nhân lực và giáo dục nghề nghiệp.

Cùng với xây dựng năng lực STEM, AI và mở rộng hợp tác quốc tế, việc chuẩn bị nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược tiếp tục được cụ thể hóa. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 2888/QĐ-BGDĐT về Chuẩn chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ và tiến sĩ các ngành về điện hạt nhân.

Cùng với việc học tập trên giảng đường, sinh viên Trường Khoa học Tự nhiên, Đại học Cần Thơ chủ động vận dụng kiến thức vào thực tiễn thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học. 
Ảnh: Hoàng Hiếu - TTXVN

Chuẩn xác định 22 ngành đào tạo, gồm 7 ngành cốt lõi và 15 ngành phụ trợ, liên ngành. Bên cạnh vật lý nguyên tử và hạt nhân, kỹ thuật hạt nhân, kỹ thuật nhiệt, năng lượng, điện, điều khiển và tự động hóa, danh mục còn có khoa học máy tính, công nghệ thông tin, kỹ thuật máy tính, trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, vật liệu, hóa học và các lĩnh vực liên quan.

Cách tiếp cận này cho thấy, đào tạo nhân lực điện hạt nhân được đặt trong hệ sinh thái liên ngành, kết nối kỹ thuật hạt nhân với công nghệ số, AI, dữ liệu, tự động hóa và vật liệu mới, thay vì chỉ tập trung vào một số chuyên ngành hạt nhân truyền thống.

Nhìn tổng thể, việc chuẩn bị nguồn nhân lực cho kỷ nguyên số đang được triển khai trên nhiều tầng: hình thành năng lực STEM và AI từ giáo dục phổ thông; điều chỉnh đào tạo đại học theo yêu cầu của thị trường lao động; đổi mới giáo dục trên nền tảng dữ liệu và công nghệ; huy động nguồn lực quốc tế và chuẩn hóa đào tạo nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược.

Yêu cầu tiếp theo là chuyển những chính sách, chương trình, công nghệ và thỏa thuận hợp tác thành chất lượng và kết quả có thể đo lường, để năng lực số, AI và công nghệ thực sự trở thành năng lực của người học, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới./.


Việt Hà

Xem thêm