Khoa học

Tập trung nguồn lực để tạo ra các sản phẩm ứng dụng công nghệ sinh học chất lượng cao

TP. Hồ Chí Minh

Theo đánh giá của Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, với việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển và ứng dụng, công nghệ sinh học Việt Nam đã có bước tiến, làm chủ một số công nghệ hiện đại.

Các chuyên gia chia sẻ tại hội thảo. 
Ảnh: Thu Hoài - TTXVN

Tại hội thảo khoa học Chiến lược phát triển Công nghệ sinh học giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045, do Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp cùng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ và Tập đoàn CT Group tổ chức ngày 29/11, các chuyên gia kỳ vọng rằng sự tháo gỡ nhanh chóng về mặt cơ chế chính sách cùng với việc thúc đẩy hợp tác “ba nhà” sẽ tập trung được nguồn lực cùng tạo ra các sản phẩm ứng dụng công nghệ sinh học chất lượng cao “make in Viet Nam”.

Là một trong những lĩnh vực có tác động rộng lớn, công nghệ sinh học được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như nông nghiệp, công nghiệp chế biến, y dược, bảo vệ môi trường, an ninh quốc phòng và đem đến những thay đổi có tính cách mạng về cuộc sống của nhân loại. Các nước phát triển trên thế giới đã đầu tư mạnh mẽ vào lĩnh vực này và mang lại hiệu quả, lợi nhuận cao.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai, Phó Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh chia sẻ, thị trường công nghệ sinh học toàn cầu trong năm 2025 ước tính khoảng 1,8 nghìn tỷ USD và được dự báo sẽ tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm tới, đạt con số gấp đôi vào năm 2030. Theo một số thống kê, thị trường này tại Việt Nam hiện nay khoảng 1,5 tỷ USD, tức chỉ chiếm chưa đến 0,1% thị trường thế giới. Đối sánh với thị trường của các quốc gia trong khu vực châu Á, ước tính Trung Quốc gấp Việt Nam khoảng 100 lần, Nhật Bản khoảng 55 lần, Hàn Quốc là 28 lần và Ấn Độ khoảng 25 lần.

Bày tỏ sự trăn trở của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh về những con số này, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Thanh Mai cho biết, dù có thế mạnh của một hệ thống đại học liên ngành, nguồn lực dồi dào về trí tuệ nhân tạo và công nghệ sinh học, nhưng việc chuyển giao thành sản phẩm thương mại ở lĩnh vực này còn rất hạn chế. Bà kỳ vọng việc hợp tác 3 nhà - một mô hình mà đơn vị đang đẩy mạnh triển khai - sẽ đạt được hiệu quả như kỳ vọng, tập trung được nguồn lực để không bị lỡ nhịp với sự tăng trưởng thần tốc của lĩnh vực công nghệ sinh học.

Tại Việt Nam, Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nền công nghệ sinh học phát triển trên thế giới, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á. Công nghệ sinh học hiện được xác định là 1 trong 11 nhóm công nghệ chiến lược theo Quyết định 1131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Danh mục công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược.

Theo đánh giá của Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, với việc ban hành nhiều chủ trương, chính sách phát triển và ứng dụng, công nghệ sinh học Việt Nam đã có bước tiến, làm chủ một số công nghệ hiện đại; ứng dụng rộng rãi trong đời sống và sản xuất, đặc biệt là có đóng góp tích cực trong các lĩnh vực nông nghiệp, y tế... Đội ngũ nhân lực trong lĩnh vực này ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng.

Tuy nhiên, lĩnh vực công nghệ sinh học Việt Nam chưa có kết quả đột phá trong nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng. Cùng với đó, nhân lực chuyên môn cao ở lĩnh vực này còn thiếu; hợp tác quốc tế, chuyên gia công nghệ và liên kết viện, trường-doanh nghiệp chưa hiệu quả, sản phẩm thương mại hóa hạn chế. Có nhiều điểm nghẽn đối với phát triển lĩnh vực này như thiếu cơ chế, chính sách đặc thù; đầu tư thấp, cơ chế tài chính chưa hợp lý; chính sách đãi ngộ cho nhân lực cũng chưa hấp dẫn; trang thiết bị, cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu.

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Huỳnh Thành Đạt phát biểu tại hội thảo. 
Ảnh: Thu Hoài - TTXVN

Phó Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Huỳnh Thành Đạt cho rằng, nếu chúng ta chỉ dừng lại ở việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học mà chưa chuyển hóa được thành sản phẩm, chưa hình thành được năng lực sản xuất và thương mại hóa thì rất khó đạt được các mục tiêu lớn đã đề ra. Vì thế, giai đoạn 2026 - 2030 là thời kỳ có ý nghĩa chiến lược đối với phát triển công nghệ sinh học. Chiến lược giai đoạn này cần được thiết kế theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh: từ nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi, phát triển sản phẩm, tổ chức thị trường đến việc đặt hàng nghiên cứu trên cơ sở nhu cầu thực tiễn. Mọi định hướng, mọi đột phá đều phải gắn chặt với yêu cầu về chuẩn mực, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, an toàn sinh học và đạo đức sinh học, nhằm bảo đảm sản phẩm của Việt Nam có thể tham gia thị trường khu vực và quốc tế một cách hiệu quả, bền vững và có trách nhiệm. Trọng tâm trong giai đoạn này là làm chủ một số công nghệ cốt lõi, qua đó phát triển các sản phẩm công nghệ sinh học “Make in Vietnam” trong những lĩnh vực có tiềm năng và nhu cầu lớn như y dược, nông nghiệp công nghệ cao, bảo vệ môi trường.

Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đổi mới mạnh mẽ cơ chế thử nghiệm, quản trị rủi ro (sandbox), bảo đảm tạo không gian cho đổi mới sáng tạo. Việc đầu tư phải có trọng tâm, trọng điểm, nhất là đầu tư cho hạ tầng nghiên cứu và phát triển, xây dựng các cụm liên hoàn từ nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm chuẩn đến ươm tạo doanh nghiệp, gắn đào tạo với thực tiễn sản xuất, kinh doanh.

Dựa trên phân tích xu hướng toàn cầu và thực tiễn trong nước, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đề xuất định vị chiến lược Công nghệ sinh học quốc gia trong giai đoạn tới dựa trên 4 lĩnh vực cốt lõi, phù hợp, gồm Y tế và sức khỏe; Nông nghiệp và sản phẩm xanh; Môi trường và phát triển bền vững; Tin sinh học và trí tuệ nhân tạo.

Trong lĩnh vực Y tế và sức khỏe tập trung vào y học tái tạo (tế bào gốc, exosome), vaccine thế hệ mới và y học chính xác. Lĩnh vực Nông nghiệp và sản phẩm xanh (Green) tập trung phát triển giống cây trồng thích ứng biến đổi khí hậu (Gene-editing) và chế phẩm sinh học bền vững. Lĩnh vực Môi trường và phát triển bền vững (Sustainable) tập trung vào công nghệ Net Zero, kinh tế tuần hoàn và xử lý môi trường bằng vi sinh bản địa. Lĩnh vực Tin sinh học và trí tuệ nhân tạo (Bioinformatics & AI), xây dựng hạ tầng dữ liệu Gen người Việt và ứng dụng AI trong thiết kế thuốc, vaccine.

Góc độ doanh nghiệp, ông Trần Kim Chung, Chủ tịch Tập đoàn CT Group cho biết, Tập đoàn xác định công nghệ sinh học là 1 trong 5 trụ cột chiến lược trong giai đoạn phát triển mới, đặc biệt liên quan y sinh, nông nghiệp chính xác, năng lượng xanh và vật liệu sinh học. Theo ông để tạo ra sức bật đột phá thì mô hình hợp tác 3 nhà sẽ là chìa khóa quan trọng đưa công nghệ sinh học Việt Nam bứt phá trong giai đoạn tới. Với nền tảng khoa học cơ bản vững chắc và hệ thống đổi mới sáng tạo có chiều sâu, Tập đoàn cam kết đồng hành lâu dài cùng nhà nước, trường, viện trong thúc đẩy R&D, chuyển giao công nghệ; tham gia vào việc hình thành doanh nghiệp công nghệ sinh học; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển bản sao số quốc gia NDT 15, kinh tế không gian cận biên, và máy tính lượng tử làm đòn bẩy công nghệ cho công nghệ sinh học Việt Nam…

Tháo gỡ điểm nghẽn thúc đẩy phát triển công nghệ sinh học, các chuyên gia đề xuất cơ chế "Sandbox", rút gọn quy trình thẩm định, cấp phép thử nghiệm lâm sàng cho các sản phẩm nghiên cứu trọng điểm; xây dựng cơ chế thí điểm (Pilot) cho thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ trong trường đại học; đầu tư hệ thống phòng thí nghiệm đạt chuẩn GMP và các trung tâm kiểm định quốc gia. Cùng với đó, việc thí điểm mô hình hợp tác "Triple Helix" (3 nhà) đi vào thực chất là cần thiết, trong đó doanh nghiệp không chỉ là đơn vị đặt hàng mà còn là nhà đầu tư chiến lược, cùng đồng hành từ khâu R&D đến thương mại hóa./.

 

Lý Thu Hoài

Xem thêm