Chính sách và phát triển

Thay nếp nghĩ, đổi cách làm để giảm nghèo

Đắk Lắk

Từ những mô hình hỗ trợ sinh kế thiết thực, nhiều hộ nghèo, cận nghèo tại các xã vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Đắk Lắk đã từng bước cải thiện thu nhập, ổn định cuộc sống.

Qua đó, góp phần thay đổi nếp nghĩ, cách làm, tạo nền tảng để địa phương thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, đưa các xã, thôn, buôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn vào năm 2030.

Chính quyền địa phương triển khai chính sách hỗ trợ bò sinh sản cho hộ nghèo, cận nghèo, tạo điều kiện để người dân phát triển sản xuất, giảm nghèo bền vững.
 Ảnh: Nguyên Dung - TTXVN

*Trao sinh kế, tạo động lực để người dân vươn lên

Nhiều năm bươn chải làm thuê, cuộc sống gia đình chị Mã Thị Dung, dân tộc Tày, ở thôn 6, xã biên giới Ea Bung luôn trong cảnh thiếu trước hụt sau. Bản thân chị bị đau thần kinh tọa, từng có thời gian bị liệt nên sức khỏe suy giảm, không thể làm những công việc nặng nhọc. Nguồn sống của gia đình chủ yếu dựa vào việc làm thuê, thu nhập bấp bênh chỉ đủ trang trải những nhu cầu thiết yếu.

Bước ngoặt đến vào năm 2024, khi gia đình chị được hỗ trợ một con bò sinh sản từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Sau đó, gia đình chị tiếp tục được các đơn vị tại địa phương hỗ trợ thêm một con bò cái, cặp heo giống cùng 60 con vịt đẻ và vịt thịt. Từ những con giống ban đầu, chị Mã Thị Dung từng bước gây dựng đàn vật nuôi. Đến nay, gia đình có 3 con bò, 6 con heo và hàng chục con gia cầm. Chăn nuôi dần trở thành nguồn thu nhập chính, mang lại khoảng 5 triệu đồng mỗi tháng, giúp gia đình có điều kiện trang trải sinh hoạt và tiếp tục tái đầu tư sản xuất.

Chị Mã Thị Dung chia sẻ, trước đây gia đình rất khó khăn, bản thân sức khỏe yếu nên chủ yếu đi làm thuê, ngày nào có việc mới có tiền mua gạo, thức ăn. Từ khi được hỗ trợ con giống, chị yên tâm hơn, chủ động mua thêm vật nuôi để gây đàn, xoay vòng sản xuất. Khoảng một đến hai tháng, gia đình lại có lứa vật nuôi xuất bán, tạo thêm nguồn thu nhập.

Tại xã Ea Súp, gia đình anh Hoàng Văn Ét cũng từng đối mặt với nhiều khó khăn do không có đất sản xuất, chủ yếu dựa vào công việc làm thuê. Bố vợ anh là thương binh, tỷ lệ thương tật 79%; trước đây gia đình thuộc diện cận nghèo. Năm 2024, gia đình anh được chính quyền địa phương hỗ trợ 2 con bò sinh sản từ Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, với tổng kinh phí khoảng 40 triệu đồng. Từ nguồn hỗ trợ này, gia đình tập trung chăm sóc bò, từng bước xây dựng sinh kế phù hợp với điều kiện thực tế. Đến nay, bò đã sinh thêm 3 con, tạo nguồn lực để gia đình anh tiếp tục phát triển chăn nuôi, cải thiện thu nhập, từng bước ổn định cuộc sống.

Mô hình nuôi bò sinh sản được triển khai tại xã Tân Tiến, tỉnh Đắk Lắk góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho hộ nghèo, cận nghèo. 
Ảnh: Nguyên Dung – TTXVN

Tương tự tại xã Tân Tiến, mô hình nuôi bò sinh sản cũng mở ra cơ hội phát triển kinh tế cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn. Gia đình anh Trường, dân tộc Xơ Đăng, ở buôn Kon Wang, trước đây thuộc diện cận nghèo, có 6 người con đang trong độ tuổi ăn học. Nguồn thu nhập của gia đình chủ yếu dựa vào khoảng một ha đất trồng cà phê. Năm 2025, gia đình anh được hỗ trợ 2 con bò sinh sản từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Có thêm tư liệu sản xuất, anh Trường tích cực chăm sóc đàn bò. Đến cuối năm 2025, gia đình đã thoát nghèo.

Anh Trường cho biết, gia đình rất biết ơn sự quan tâm, hỗ trợ của Nhà nước. Hai con bò giống là nguồn lực quan trọng để gia đình phát triển chăn nuôi, hướng đến nhân đàn trong thời gian tới. Anh sẽ cố gắng chăm sóc đàn bò, từng bước nâng cao thu nhập để có điều kiện chăm lo cho các con học tập.

Theo ông Tháng (dân tộc Xơ Đăng), Buôn trưởng buôn Kon Wang, toàn buôn hiện có 781 hộ dân, trong đó có 107 hộ nghèo và 76 hộ cận nghèo. Để triển khai mô hình hỗ trợ bò sinh sản, ban tự quản buôn phối hợp với chính quyền tổ chức họp dân, lấy ý kiến, rà soát nhu cầu và lựa chọn những gia đình thực sự có nhu cầu tham gia. Mô hình được người dân đồng tình bởi phù hợp với điều kiện sản xuất tại địa phương.

Bà Hoàng Thị Như Anh, Phó Chủ tịch UBND xã Tân Tiến cho biết, địa phương chú trọng rà soát đúng đối tượng, công khai danh sách thụ hưởng, lựa chọn mô hình phù hợp với nhu cầu và điều kiện thực tế. Sau hỗ trợ, các cơ quan chuyên môn tiếp tục theo dõi, hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra tình hình dịch bệnh để giúp người dân phát triển chăn nuôi hiệu quả. Dù vậy, một số hộ còn hạn chế về tính chủ động và khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đòi hỏi địa phương tiếp tục tăng cường hướng dẫn, hỗ trợ trong thời gian tới.

*Huy động nguồn lực

Mô hình nuôi bò sinh sản được triển khai tại xã Tân Tiến, tỉnh Đắk Lắk góp phần tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho hộ nghèo, cận nghèo. 
Ảnh: Nguyên Dung – TTXVN

Theo báo cáo của UBND tỉnh Đắk Lắk về kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025, theo chuẩn nghèo đa chiều, giai đoạn 2022-2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm bình quân 1,49%/năm, từ 10,09% cuối năm 2021 xuống còn 4,13% cuối năm 2025, đạt mục tiêu đề ra; tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 3,76%/năm, từ 27,49% cuối năm 2021 xuống còn 12,44% cuối năm 2025, đạt và vượt mục tiêu.

Dù đạt nhiều kết quả tích cực, công tác giảm nghèo vẫn còn những thách thức. Tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh hiện vẫn còn cao so với mặt bằng chung cả nước; tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số ở một số địa phương còn cao, chủ yếu tập trung ở các xã, thôn, buôn đặc biệt khó khăn. Đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 66,02% so với hộ nghèo toàn tỉnh.

Giai đoạn 2026-2030, toàn tỉnh có 81 xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, trong đó 51 xã và 449 thôn, buôn thuộc diện đặc biệt khó khăn. Những địa bàn này, đời sống người dân còn nhiều trở ngại do hạ tầng chưa đồng bộ, sinh kế thiếu ổn định và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản còn hạn chế.

Nhằm tăng cường các giải pháp giảm nghèo bền vững, hỗ trợ các xã, thôn, buôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đắk Lắk đã ban hành Chương trình hành động số 35-CTr/TU thực hiện Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Theo đó, tỉnh phấn đấu đến năm 2030 đưa toàn bộ 51 xã và 449 thôn, buôn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn; nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế, đời sống người dân, từng bước giải quyết nhu cầu về nhà ở, đất ở, đất sản xuất và củng cố hệ thống chính trị cơ sở.

Để thực hiện mục tiêu, tỉnh xác định các nhóm nhiệm vụ trọng tâm gồm, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo; đổi mới công tác tuyên truyền, phát huy ý chí tự lực và vai trò chủ thể của người dân; phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững; tạo sinh kế, nâng cao thu nhập; hoàn thiện kết cấu hạ tầng, giải quyết nhu cầu thiết yếu, thực hiện hiệu quả phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”... Chương trình hành động nhấn mạnh yêu cầu lấy người dân làm trung tâm, chuyển từ hỗ trợ đơn thuần sang tạo điều kiện để người dân chủ động vươn lên thoát nghèo. Việc bố trí nguồn lực phải có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên địa bàn khó khăn nhất. Tổng nhu cầu vốn thực hiện giai đoạn 2026-2030 dự kiến khoảng 17.000 tỷ đồng, trong đó khoảng 13.600 tỷ đồng đầu tư cho 51 xã và 3.400 tỷ đồng cho 449 thôn, buôn.

Mới đây, tại Kỳ họp chuyên đề lần thứ 3, HĐND tỉnh Đắk Lắk khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031, đã thông qua nghị quyết phân bổ hơn 4.522 tỷ đồng vốn đầu tư phát triển thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030. Trong số 4.522 tỷ đồng được UBND tỉnh Đắk Lắk phân bổ, có hơn 2.500 tỷ đồng từ ngân sách Trung ương, được bố trí cho 88 xã; gần 2.000 tỷ đồng còn lại là vốn địa phương, tỉnh sẽ phân bổ tới toàn bộ 102 xã, phường. Riêng năm 2026, số kinh phí được phân bổ là 540 tỷ đồng.

Việc huy động, phân bổ nguồn lực cùng các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất được kỳ vọng tạo thêm điều kiện để người dân nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng. Để giảm nghèo đạt hiệu quả thực chất, địa phương cần tiếp tục chú trọng lựa chọn mô hình sinh kế phù hợp, nâng cao trách nhiệm của người dân. Qua đó, góp phần hạn chế tái nghèo và đưa các địa bàn đặc biệt khó khăn từng bước phát triển bền vững./.


Nguyên Dung

Tin liên quan

Xem thêm