Về nhân lực, Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 có 10.000 nhân lực AI trình độ cao, 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI.
Chiến lược quốc gia về trí tuệ nhân tạo (AI) đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI, kinh tế AI đạt khoảng 6% GDP, năng suất lao động trong các ngành ứng dụng AI tăng 10-15% và xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ, giải pháp AI đạt khoảng 5 tỷ USD. Chiến lược đồng thời xác định chuyển từ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI sang chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI. Nội dung trên được ông Nguyễn Khắc Lịch, Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết tại họp báo thường kỳ tháng 8/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ.
Theo nội dung được xây dựng tại Chiến lược, AI không chỉ được đặt trong phạm vi nghiên cứu, phát triển và ứng dụng công nghệ mà trở thành một năng lực cốt lõi trong xác định bài toán, thiết kế, tổ chức và vận hành các hoạt động của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội. Nhân lực, hạ tầng và dữ liệu được xác định là nền tảng; thể chế và quản trị AI là khâu đột phá. Việc triển khai gắn với trách nhiệm của người đứng đầu, lấy con người làm trung tâm, đồng thời phổ cập kỹ năng AI cho người dân và phát triển đồng bộ hạ tầng, dữ liệu, mô hình, nền tảng AI, bảo đảm an toàn, an ninh và chủ quyền.
Chiến lược nêu rõ mục tiêu, đến năm 2030, Việt Nam có 60% doanh nghiệp ứng dụng AI cải thiện hiệu quả; 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng AI trong công vụ hằng tuần; 60% quyết định điều hành được hỗ trợ bởi dữ liệu và AI; mức độ hài lòng với dịch vụ công có AI tăng ít nhất 30%. Ở khu vực công, 100% bộ, ngành, địa phương phải có kế hoạch triển khai AI; 100% dịch vụ công trực tuyến và hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ bởi AI. Chiến lược cũng đặt mục tiêu hình thành nền tảng điều phối năng lực tính toán AI quốc gia, nền tảng đánh giá mô hình AI tiếng Việt, ít nhất 5 nền tảng AI dùng chung, 10 thương hiệu AI Việt Nam và 8 mô hình AI tiếng Việt theo 4 quy mô.
Một yêu cầu lớn để thực hiện các mục tiêu là phát triển năng lực tính toán, dữ liệu và nhân lực. Chiến lược định hướng tổng đầu tư cho AI đạt 1-1,5% GDP mỗi năm; năng lực tính toán đạt khoảng 560 EFLOPS BF16 hoặc 1.100 EFLOPS FP8, với công suất điện khoảng 500 MW. Dữ liệu trọng yếu được số hóa, chuẩn hóa, làm sạch và sẵn sàng cho AI.
Về nhân lực, Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 có 10.000 nhân lực AI trình độ cao, 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI; đào tạo, đào tạo lại 500.000 lao động để triển khai, vận hành AI và trang bị kỹ năng AI cơ bản cho 10 triệu lao động đã qua đào tạo. Chiến lược cũng xác định 9 trụ cột phát triển, gồm nhân lực và kỹ năng AI toàn dân; dữ liệu, mô hình AI; hạ tầng AI; nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI; AI trong quản trị quốc gia; AI cho các ngành, lĩnh vực; AI cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã; hệ sinh thái AI; quản trị AI an toàn, đáng tin cậy. Trong đó, doanh nghiệp AI Việt Nam được xác định là lực lượng chủ lực, phát triển các sản phẩm, dịch vụ “Make in Viet Nam” và doanh nghiệp AI-native (Ai gốc). Hợp tác quốc tế được triển khai gắn với năng lực nội sinh, tự chủ chiến lược, đa dạng hóa đối tác, công nghệ và chuỗi cung ứng.
Để bảo đảm khả năng thực thi, Chiến lược được cụ thể hóa bằng 32 chỉ tiêu và 97 nhiệm vụ, giải pháp thuộc 14 nhóm. Mỗi nhiệm vụ xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, đơn vị thực hiện, sản phẩm hoặc kết quả và thời gian thực hiện. Theo ông Nguyễn Khắc Lịch, 6 nhóm giải pháp đột phá triển khai Chiến lược gồm hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; điều phối quốc gia và trách nhiệm thực thi; huy động nguồn lực, bảo đảm kinh phí; hợp tác quốc tế và xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn; tuyên truyền, nâng cao nhận thức và văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm; đo lường, giám sát, đánh giá. Việc thực hiện gắn với nguyên tắc “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm, rõ thẩm quyền. Kết quả và mức độ chuyển đổi AI là căn cứ để điều chỉnh nhiệm vụ, chính sách và ưu tiên bố trí nguồn lực.
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao chủ trì triển khai, điều phối liên ngành, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, giám sát, đo lường, đánh giá và hằng năm báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực và tổ chức thực hiện; doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và các tổ chức liên quan tham gia theo nhiệm vụ được xác định. Tầm nhìn đến năm 2045 được chỉ rõ tại Chiến lược, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI và chuyển đổi AI quốc gia; AI trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội.
Tại họp báo, Bộ Khoa học và Công nghệ đã chính thức công bố và đưa vào vận hành Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo tại địa chỉ ai.dda.gov.vn. Đây là nền tảng số được xây dựng để triển khai Luật Trí tuệ nhân tạo và các văn bản hướng dẫn thi hành, hình thành một đầu mối thống nhất phục vụ quản lý nhà nước, minh bạch thông tin và thúc đẩy hệ sinh thái AI Việt Nam phát triển an toàn, có trách nhiệm. Nền tảng cung cấp một địa chỉ trực tuyến duy nhất để doanh nghiệp, nhà phát triển, cơ quan nhà nước, chuyên gia và người dân thực hiện các thủ tục, khai báo, tra cứu và tương tác với cơ quan quản lý. Các chức năng trọng tâm của cổng thông tin điện tử này gồm: Tiếp nhận đăng ký thử nghiệm có kiểm soát; thông báo phân loại rủi ro và đăng ký hệ thống AI; báo cáo sự cố nghiêm trọng và báo cáo định kỳ; công khai thông tin, kết quả đánh giá và xử lý vi phạm; kết nối doanh nghiệp với các chương trình hỗ trợ, hạ tầng, dữ liệu dùng chung và các nguồn lực phát triển AI. Thông qua nền tảng, doanh nghiệp có thể thực hiện thủ tục trực tuyến, giảm thời gian và chi phí tuân thủ; người dân có thể tra cứu, giám sát, gửi phản ánh và tiếp nhận cảnh báo về các hệ thống./.

