Chính sách và phát triển

Chuyển đổi số, chìa khóa nâng tầm thủy sản Việt

Cần Thơ

Các chuyên gia nhấn mạnh vai trò của chuyển đổi số trong nâng cao hiệu quả sản xuất, đồng thời xác định hợp tác xã là hạt nhân tổ chức lại sản xuất, tăng sức cạnh tranh cho ngành thủy sản.

Sơ chế ngao xuất khẩu.  
Ảnh: Lê Đông - TTXVN 

Số hoá để giảm thiểu rủi ro

Đứng trước yêu cầu nâng cao sức cạnh tranh và đáp ứng ngày càng nhiều tiêu chuẩn của thị trường quốc tế, ngành thủy sản Việt Nam, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long, đang phải đối mặt với không ít thách thức. Trong đó, những vấn đề nội tại như xâm nhập mặn, sụt lún đất, dịch bệnh cùng áp lực từ các quy định mới như Thỏa thuận Xanh của Liên minh châu Âu (EU Green Deal), quy định chống khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU) và Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đang đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với sản xuất và xuất khẩu thủy sản.

Trong bối cảnh đó, mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 11,5 tỷ USD vào năm 2026 đòi hỏi ngành phải chủ động thích ứng, đổi mới phương thức sản xuất và nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu của thị trường.

Theo ông Đỗ Minh Phương, Cục Chuyển đổi số (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), hiện nay, các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản đòi hỏi thông tin chi tiết từ nguồn gốc tôm bố mẹ, thức ăn, quá trình chăm sóc đến tận khâu thu hoạch và giao nhận. Bởi vậy, tư duy chiến lược mới không phải là cạnh tranh bằng giá rẻ mà là hóa giải rào cản bảo hộ bằng công nghệ cao và minh bạch hóa dữ liệu. 

Bà Ingrid Korving, Tham tán Nông nghiệp Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam nhận định, Việt Nam cần chuyên nghiệp hóa canh tác thông qua phương pháp tiếp cận dựa trên dữ liệu để giữ vững vai trò dẫn đầu toàn cầu về nuôi trồng thủy sản có trách nhiệm. Việc số hóa không chỉ tăng tính minh bạch mà còn là giải pháp tối ưu để giảm thiểu rủi ro, cải thiện hiệu suất và nâng cao năng suất thu hoạch.

Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam Cao Xuân Thu Vân ví chuyển đổi số là “chìa khóa vạn năng” để mở cánh cửa hội nhập. Tuy nhiên, bà Vân cũng thẳng thắn chỉ ra rằng năng lực quản trị dữ liệu tại các hợp tác xã hiện nay đang là “mắt xích” yếu nhất. Sự chậm trễ trong tiến trình này không chỉ làm suy giảm sức cạnh tranh mà còn tiềm ẩn nguy cơ đứt gãy thông tin, khiến công tác quản lý nhà nước trở nên thiếu đồng bộ và tốn kém.

Chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi giá trị bền vững

Cấp đông sản phẩm cá tra phi lê xuất khẩu. 
Ảnh: Vũ Sinh-TTXVN 

Trong chuỗi sản xuất và tiêu thụ thủy sản, hợp tác xã ngày càng giữ vai trò quan trọng trong tập hợp các hộ nuôi, tổ chức vùng nguyên liệu và kết nối với doanh nghiệp. Tại Đồng bằng sông Cửu Long, hợp tác xã trở thành đầu mối liên kết người nuôi với doanh nghiệp, nhà khoa học và cơ quan quản lý. Qua đó, các khâu từ sản xuất, kiểm soát chất lượng đến tiêu thụ có điều kiện được tổ chức chặt chẽ hơn, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.

Tiến sĩ Nguyễn Tiến Định (Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn) khẳng định, trong kỷ nguyên số, hợp tác xã đóng vai trò là “Gateway” – cổng kết nối dữ liệu giữa hàng ngàn hộ nuôi nhỏ lẻ với các cơ quan quản lý và người mua quốc tế. Nếu không có hợp tác xã đủ năng lực làm hạt nhân, các mục tiêu về liên kết chuỗi và minh bạch thị trường sẽ rất khó thực thi.

Để cụ thể hóa vai trò này, các chuyên gia đề xuất lộ trình số hóa 3 bước cho các hợp tác xã: xây dựng dữ liệu thành viên và ao nuôi, thí điểm các "ao nuôi số" với cảm biến môi trường (độ mặn, oxy) theo thời gian thực; thiết lập hệ thống cảnh báo sớm và nhật ký điện tử, giúp giảm rủi ro dịch bệnh và đáp ứng yêu cầu ký kết hợp đồng xuất khẩu; khi dữ liệu đủ lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phân tích, dự báo và tối ưu hóa chi phí sản xuất.

Thực tế tại Cà Mau, Hợp tác xã Ba Đình phối hợp với Tập đoàn Minh Phú triển khai mô hình tôm – rừng sinh thái, mang lại lợi nhuận tới 100 triệu đồng/ha/năm. Tại Cần Thơ, Hợp tác xã Toàn Thắng với 84 thành viên đã thực hiện “khai báo một lần” trên hệ thống điện tử, loại bỏ gánh nặng sổ sách thủ công rườm rà. Việc số hóa này còn giúp hợp tác xã tạo ra bộ hồ sơ “Bankable” (đủ điều kiện vay vốn) để tiếp cận các nguồn tín dụng xanh.

Nông dân thu hoạch tôm sú nuôi theo hình thức quảng canh. 
Ảnh: TTXVN phát

Đại diện Công ty TNHH xã hội tôm chứng nhận Minh Phú (thuộc Tập đoàn Minh Phú) cũng chia sẻ kinh nghiệm về việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ (ICS). Đây là giải pháp giúp các hợp tác xã tự giám sát và chứng nhận lẫn nhau theo các tiêu chuẩn quốc tế như ASC hay tôm hữu cơ, giúp nâng cao giá trị sản phẩm lên gấp nhiều lần so với nuôi tôm thông thường.

Dù tiềm năng rất lớn, nhưng thực tế ứng dụng tự động hóa trong các hợp tác xã nông nghiệp hiện chỉ đạt khoảng 2%. Khó khăn lớn nhất, theo ông Nguyễn Hoàng Huy (Hợp tác xã Toàn Thắng) là chi phí đầu tư cao và sự thiếu hụt nhân lực kỹ thuật số tại cơ sở. Để biến tiềm năng thành thực tế, cần một chiến lược hỗ trợ đồng bộ từ bên ngoài và nỗ lực tự thân của hợp tác xã.

Về mặt chính sách, ông Dương Tuấn Cương, Phó trưởng Ban Kinh tế - Chính sách (Liên minh Hợp tác xã Việt Nam) kiến nghị Nhà nước cần sớm ban hành bộ quy chuẩn kết nối dữ liệu mở (Open API). Điều này đảm bảo dữ liệu sản xuất từ ao nuôi có thể tự động đồng bộ lên hệ thống quản lý quốc gia và nền tảng của doanh nghiệp thu mua, thực hiện triệt để nguyên tắc "nhập liệu một lần". Bên cạnh đó, cần chuyển dịch hỗ trợ công nghệ sang mô hình "Phần mềm như một dịch vụ" (SaaS) để hợp tác xã tiếp cận nền tảng với chi phí linh hoạt theo chu kỳ sản xuất. Đặc biệt, việc hình thành đội ngũ "Kỹ thuật viên số" tại cơ sở – những người trẻ am hiểu công nghệ đồng hành cùng nông dân – là điều kiện tiên quyết để vận hành các thiết bị IoT và quản trị dữ liệu.

Ông Duco Onnes, Tổng Giám đốc Skretting Vietnam, cho rằng doanh nghiệp cần đồng hành cùng hợp tác xã ngay từ khâu thiết kế dữ liệu. Chính sách "cộng giá" cho sản phẩm có dữ liệu minh bạch sẽ là động lực mạnh mẽ nhất để nông dân thay đổi thói quen sản xuất truyền thống.

Tầm nhìn đến năm 2030, hợp tác xã thủy sản không chỉ đơn thuần là nơi tập hợp nông dân mà phải trở thành các doanh nghiệp số minh bạch và có trách nhiệm. vì thế, chuyển đổi số tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là việc trang bị máy móc hay cài đặt phần mềm, mà thực chất là một cuộc cách mạng về tư duy quản trị: chuyển từ dựa vào kinh nghiệm cảm tính sang dữ liệu thực chứng; chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi giá trị bền vững.

Sự cộng hưởng giữa chính sách kiến tạo của Nhà nước, sự đồng hành của doanh nghiệp và khát vọng làm chủ công nghệ của mỗi thành viên hợp tác xã sẽ là chìa khóa để thủy sản Việt Nam hóa giải mọi rào cản, khẳng định giá trị bền vững trên hành trình vươn mình ra biển lớn./.

PV

Tin liên quan

Xem thêm