Từ câu chuyện ở Giồng Trôm có thể thấy, thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ là thay đổi cây trồng hay mô hình sản xuất. Đằng sau mỗi sự chuyển đổi là yêu cầu thay đổi chính người lao động nông nghiệp.
Trước những tác động ngày càng rõ của biến đổi khí hậu, người nông dân không thể chỉ dựa vào kinh nghiệm truyền thống mà cần được trang bị kiến thức, kỹ năng và phương pháp sản xuất mới. Từ thực tiễn sản xuất tại xã Giồng Trôm, tỉnh Vĩnh Long cho thấy, việc tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật đang trở thành một trong những yếu tố quan trọng giúp nông dân chủ động chuyển đổi mô hình, hướng tới nền nông nghiệp xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu.
*Thay đổi tư duy sản xuất từ thực tiễn
Giồng Trôm từng phát triển mạnh mô hình chuyên canh cây có múi, trong đó có thời điểm nhóm cây này chiếm hơn 70% diện tích canh tác toàn xã. Bưởi da xanh, cam, chanh, quýt từng mang lại nguồn thu nhập đáng kể, góp phần thay đổi đời sống người dân. Tuy nhiên, đợt hạn mặn lịch sử năm 2019 - 2020 đã tác động mạnh đến sản xuất, buộc người dân phải thay đổi phương thức canh tác.
Sau hạn mặn, thay vì phụ thuộc vào một loại cây trồng, nhiều hộ dân chuyển sang mô hình đa tầng canh tác, trồng xen cây có múi trong vườn dừa, kết hợp nuôi thủy sản dưới mương vườn. Sau hợp nhất địa giới hành chính, diện tích cây có múi trên địa bàn xã Giồng Trôm hiện hơn 987 ha, trong đó bưởi da xanh khoảng 350 ha, tập trung tại khu vực thị trấn Giồng Trôm và Bình Hòa trước đây.
Để thực hiện được sự chuyển đổi này, kinh nghiệm sản xuất truyền thống không còn đủ. Người dân phải hiểu đặc tính sinh trưởng của từng loại cây, khả năng thích ứng với đất và nguồn nước, phương pháp bố trí cây trồng cũng như kỹ thuật sử dụng nước, phân bón và phòng trừ sâu bệnh.
Ông Trần Văn Tư, xã Giồng Trôm, là một trong những hộ chủ động thay đổi phương thức sản xuất sau đợt hạn mặn lịch sử. Trên 1,6 ha vườn cây có múi, ông trồng xen 400 cây dừa xiêm xanh, chiếm khoảng 50% diện tích; phần còn lại tiếp tục duy trì chủ yếu cam và quýt.
Theo ông Tư, mô hình này đòi hỏi người sản xuất phải nắm được đặc điểm sinh trưởng của từng loại cây để bố trí phù hợp. Dừa tạo tầng tán cao, góp phần che chắn ánh nắng, giảm tốc độ bốc hơi nước; cây có múi sinh trưởng ở tầng thấp hơn; dưới mương vườn có thể kết hợp nuôi tôm, cá. Việc bố trí các tầng canh tác phải được tính toán, không thể thực hiện theo kiểu trồng xen tùy tiện.
Thực tế này cho thấy, quá trình chuyển đổi sản xuất đang đặt ra yêu cầu mới đối với chất lượng lao động nông nghiệp. Người nông dân không chỉ trực tiếp sản xuất mà ngày càng phải có kiến thức về đất, nước, cây trồng, sinh thái và kỹ thuật canh tác để đưa ra quyết định phù hợp với điều kiện sản xuất cụ thể.
Tương tự, ông Phạm Trọng Nhân, cùng xã Giồng Trôm, đã chuyển từ trồng bưởi da xanh sang chanh, quýt, trồng xen cau và dừa. Theo ông Nhân, ngoài yếu tố giá bưởi không còn ổn định như trước, việc chuyển đổi còn xuất phát từ sự thay đổi của điều kiện đất đai, khí hậu và tình trạng xâm nhập mặn.
Ông Nhân cho rằng đa tầng canh tác không phải là hình thức trồng vườn tạp mà phải có quy hoạch rõ ràng, lựa chọn cây trồng phù hợp với từng điều kiện sinh trưởng và bảo đảm sự tương hỗ giữa các loại cây. Trong điều kiện biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, độ mặn nước tăng, triều cường dâng cao, việc đa dạng hóa cây trồng giúp giảm rủi ro khi một sản phẩm gặp khó khăn về giá.
Theo tính toán của ông Nhân, mỗi năm cây trồng xen trong vườn dừa giúp tăng thu nhập khoảng 50 - 60 triệu đồng/ha so với chỉ trồng thâm canh dừa.
Những thay đổi trong thực tiễn sản xuất cũng kéo theo yêu cầu phải nâng cao kiến thức cho người dân. Theo ông Hồ Văn Lâm, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã Giồng Trôm, nông dân địa phương đang linh hoạt chuyển đổi cơ cấu sản xuất để thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng khoa học kỹ thuật như tưới tự động tiết kiệm nước, sản xuất theo hướng hữu cơ, VietGAP nhằm ổn định năng suất và nâng cao sức cạnh tranh của nông sản.
*Đưa khoa học kỹ thuật đến với người sản xuất
Theo bà Phan Kim Tuyền, Trưởng Phòng Kinh tế xã Giồng Trôm, nếu trước đây người dân chủ yếu canh tác dựa vào kinh nghiệm và điều kiện tự nhiên sẵn có, thì hiện nay việc sản xuất đã có sự can thiệp ngày càng sâu của khoa học kỹ thuật. Người dân phải hiểu về đặc điểm sinh trưởng của từng loại cây, chất lượng đất và nguồn nước để lựa chọn phương thức canh tác phù hợp.
Để đáp ứng yêu cầu này, địa phương đã phối hợp Trung tâm Khuyến nông tỉnh Vĩnh Long kiểm tra thực tế, tư vấn và hướng dẫn người dân xử lý đất đai, áp dụng kỹ thuật canh tác mới. Qua đó, nông dân từng bước được trang bị kiến thức chuyên sâu hơn, thay vì chỉ dựa vào kinh nghiệm trong quá trình sản xuất.
Đây là hướng tiếp cận có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh yêu cầu đối với lao động nông nghiệp đang thay đổi. Từ một người trực tiếp làm đất, chăm sóc cây trồng theo kinh nghiệm, người nông dân phải từng bước trở thành chủ thể có kiến thức, biết lựa chọn giống, sử dụng vật tư hợp lý, tiết kiệm nước, áp dụng quy trình sản xuất an toàn và chủ động ứng phó với những biến động của thời tiết, thị trường.
Công tác tập huấn cũng được gắn với các mô hình sản xuất cụ thể. Trạm Khuyến nông khu vực XI và Trung tâm Giống và Hoa kiểng tỉnh Vĩnh Long đã phối hợp triển khai “Dự án giảm phát thải Carbon thông qua hỗ trợ cây Bưởi tại tỉnh Vĩnh Long”, hỗ trợ trực tiếp 50 hộ dân. Các hộ được cung cấp 2.000 cây giống bưởi da xanh, tương đương 40 cây/hộ, cùng vật tư nông nghiệp và phân hữu cơ vi sinh. Đặc biệt, người dân được tập huấn kỹ thuật để xây dựng vườn bưởi da xanh trở thành mô hình điểm, tạo cơ sở nhân rộng trong cộng đồng.
Cách làm này cho thấy đào tạo, tập huấn chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi gắn với nhu cầu sản xuất và điều kiện thực tế của từng địa bàn. Người dân được học, thực hành và áp dụng trực tiếp trên đồng ruộng, từ đó từng bước hình thành năng lực sản xuất phù hợp với yêu cầu của nền nông nghiệp xanh và bền vững.
Chủ tịch UBND xã Giồng Trôm Nguyễn Vũ Phong cho biết, nhận thức của người dân về phát triển sản xuất đang có những thay đổi tích cực. Nếu trước đây sản xuất chủ yếu dựa vào thói quen và điều kiện tự nhiên thì hiện nay, với sự hỗ trợ của ngành chuyên môn, người dân đã quan tâm và am hiểu sâu hơn về khoa học kỹ thuật. Đây là yếu tố căn cơ để phát triển bền vững hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ xã Giồng Trôm giai đoạn 2025 - 2030 xác định phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững; trong đó cây dừa và nhóm cây có múi là hai sản phẩm trồng trọt chủ lực. Thời gian tới, địa phương định hướng chuyển đổi nhanh cơ cấu sản xuất theo hướng thâm canh tổng hợp, kết hợp trồng trọt và chăn nuôi; đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, khuyến khích VietGAP, canh tác hữu cơ; tăng cường tập huấn phòng trừ sâu bệnh thích ứng với biến đổi khí hậu và hỗ trợ liên kết giữa người dân với doanh nghiệp, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường sinh thái.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Vĩnh Long, tỉnh có hơn 120 nghìn ha dừa. Việc trồng và nuôi xen canh trong vườn dừa đang mở ra hướng đi mới trong thích ứng với biến đổi khí hậu. Tùy từng vùng, từng khu vực, các loại cây trồng phù hợp sẽ được lựa chọn để người dân áp dụng. Cùng với việc mở rộng diện tích vườn dừa hữu cơ, các mô hình xen canh đa tầng như dừa - cây có múi, tôm - dừa có thêm điều kiện phát triển, tạo giá trị kinh tế cao và bền vững hơn so với sản xuất đơn canh.
Ngành nông nghiệp tỉnh cũng khuyến cáo cần tổ chức lại sản xuất theo hướng liên kết thông qua hợp tác xã, tổ hợp tác để người dân có điều kiện trao đổi kinh nghiệm, học hỏi kỹ thuật. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa nông dân, tổ chức kinh tế tập thể và doanh nghiệp, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ sản phẩm.
Từ câu chuyện ở Giồng Trôm có thể thấy, thích ứng với biến đổi khí hậu không chỉ là thay đổi cây trồng hay mô hình sản xuất. Đằng sau mỗi sự chuyển đổi là yêu cầu thay đổi chính người lao động nông nghiệp. Khi được đào tạo, tập huấn và tiếp cận khoa học kỹ thuật, người nông dân có thêm năng lực làm chủ quá trình sản xuất, từ đó từng bước hình thành đội ngũ nông dân chuyên nghiệp, có tri thức và tay nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp thông minh, hữu cơ, xanh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu./.


