Khoa học - Sáng tạo

GII 2026: Tạo giá trị từ năng lực làm chủ công nghệ

Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố ghi nhận Việt Nam xếp thứ 43 trong số 139 quốc gia, nền kinh tế, tăng một bậc so với năm 2025.

Việt Nam xếp thứ 43 trong số 139 quốc gia, nền kinh tế về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026.

Việt Nam xếp thứ 43 trong số 139 quốc gia, nền kinh tế về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026, tăng một bậc so với năm 2025. Kết quả này tiếp tục ghi nhận khả năng chuyển hóa nguồn lực thành đầu ra đổi mới sáng tạo, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực nghiên cứu, làm chủ công nghệ và thương mại hóa tài sản trí tuệ để gia tăng giá trị trong nền kinh tế.

* Thu hẹp khoảng cách trong chuỗi giá trị công nghệ

Báo cáo Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026 do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) công bố ghi nhận Việt Nam xếp thứ 43 trong số 139 quốc gia, nền kinh tế, tăng một bậc so với năm 2025. Trong đó, nhóm chỉ số đầu vào đổi mới sáng tạo xếp thứ 54, giảm bốn bậc, còn nhóm đầu ra đổi mới sáng tạo xếp thứ 35, tăng hai bậc so với năm trước.

Việc Việt Nam cải thiện thứ hạng GII trong những năm qua cho thấy những chuyển biến tích cực của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Minh, từ vị trí 76 năm 2013 lên thứ 43 năm 2026, Việt Nam đã tăng 33 bậc. Nếu tính từ năm 2016, Việt Nam cũng tăng 16 bậc, từ vị trí 59 lên 43.

Tính từ năm 2016, Việt Nam cũng tăng 16 bậc, từ vị trí 59 lên 43.

Việt Nam cũng đứng thứ hai trong nhóm 36 nền kinh tế có thu nhập trung bình thấp và thứ chín trong nhóm 17 nền kinh tế thuộc khu vực Đông Nam Á, Đông Á và châu Đại Dương. Những kết quả này cho thấy Việt Nam có khả năng tạo ra đầu ra đổi mới sáng tạo tương đối tốt so với nguồn lực đầu vào, nhưng cũng cần tiếp tục củng cố nền tảng nghiên cứu, phát triển công nghệ và liên kết trong hệ sinh thái.

Thứ trưởng Hoàng Minh đánh giá, GII cung cấp bức tranh tổng thể về hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, giúp nhận diện những lĩnh vực có lợi thế và những hạn chế cần khắc phục trong quá trình phát triển kinh tế dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Một trong những điểm sáng của Việt Nam là khả năng tạo ra kết quả từ nguồn lực đầu vào còn hạn chế. Việt Nam tiếp tục đứng đầu thế giới ở hai chỉ số về tỷ trọng xuất khẩu công nghệ cao và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo trong tổng thương mại. Kết quả này phản ánh khả năng tham gia vào mạng lưới sản xuất, thương mại toàn cầu và khai thác những lợi thế của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.

Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, ông Hoàng Minh nhận định: Năng lực làm chủ công nghệ của Việt Nam chưa tương xứng với kết quả đạt được trên thị trường hàng hóa công nghệ cao.

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Hoàng Minh, cần nhìn nhận thực tế: Năng lực làm chủ công nghệ của Việt Nam chưa tương xứng với kết quả đạt được trên thị trường hàng hóa công nghệ cao. Thu nhập từ sở hữu trí tuệ chỉ xếp thứ 110; chỉ số việc làm thâm dụng tri thức xếp thứ 100. Những thứ hạng này cho thấy việc tạo ra, sở hữu và khai thác giá trị kinh tế từ tri thức, công nghệ và tài sản trí tuệ vẫn là những khâu cần cải thiện.

Thứ trưởng Hoàng Minh cũng cho rằng, từ kết quả GII 2026, yêu cầu đặt ra là cần chuyển từ lắp ráp sản phẩm do nước ngoài thiết kế sang tự thiết kế, sở hữu và kinh doanh công nghệ, phát triển thương hiệu trong nước, đồng thời kết nối doanh nghiệp Việt Nam với chuỗi giá trị toàn cầu. Đây cũng là hướng đi có ý nghĩa đối với mục tiêu nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Khi doanh nghiệp sở hữu công nghệ, sáng chế và thương hiệu, giá trị gia tăng không chỉ đến từ sản lượng hàng hóa mà còn từ quyền khai thác tài sản trí tuệ, khả năng cung cấp giải pháp công nghệ và năng lực chủ động phát triển sản phẩm theo nhu cầu thị trường.

Ông Sacha Wunsch-Vincent, chuyên gia cao cấp của WIPO, đồng tác giả Báo cáo GII, đánh giá Việt Nam đã tận dụng tốt quá trình tham gia mạng lưới sản xuất toàn cầu. Tuy nhiên, giai đoạn phát triển tiếp theo đòi hỏi sự chuyển dịch về chất, từ sản xuất sản phẩm được thiết kế ở nơi khác sang tự thiết kế, sở hữu và kinh doanh công nghệ, xây dựng thương hiệu Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Theo chuyên gia WIPO, sự hiện diện của các tập đoàn nước ngoài trong lĩnh vực công nghiệp, công nghệ cao và bán dẫn tạo cơ hội để Việt Nam phát triển mạng lưới nhà cung ứng nội địa, nâng cao kỹ năng lao động và tiếp nhận tri thức công nghệ. Vấn đề quan trọng là tăng khả năng tham gia thực chất của doanh nghiệp trong nước, giúp họ từng bước đảm nhận những công đoạn có giá trị cao hơn, thay vì chỉ cung cấp đầu vào hoặc thực hiện các khâu sản xuất có hàm lượng công nghệ thấp.

Để làm được điều này, cần thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với các tập đoàn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), gắn thu hút đầu tư với phát triển nhà cung ứng, đào tạo nhân lực và nâng cao năng lực tiếp nhận, làm chủ công nghệ. Hiệu quả của quá trình hội nhập cần được đánh giá cả qua khả năng hình thành sản phẩm công nghệ mang thương hiệu Việt, mức độ tham gia của doanh nghiệp nội địa vào các công đoạn có giá trị cao và giá trị tri thức được tích lũy trong nước.

*Mở đường cho thương mại hóa tài sản trí tuệ

Một hạn chế khác của Việt Nam được GII 2026 chỉ ra là nguồn nhân lực và nghiên cứu. Đây là nhóm chỉ số đầu vào có thứ hạng thấp nhất của Việt Nam, hiện ở vị trí 79.

Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) là điều kiện quan trọng để hình thành năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong nước. Nếu thiếu đội ngũ nghiên cứu và hoạt động phát triển công nghệ, doanh nghiệp sẽ khó tiếp nhận, khai thác tri thức khoa học từ các trường đại học, viện nghiên cứu để tạo ra sản phẩm mới, cải tiến quy trình sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tuy niên, theo Thứ trưởng Hoàng Minh, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam hiện ở mức khoảng 0,5% GDP. Mức đầu tư này đặt ra yêu cầu phải có lộ trình huy động nguồn lực phù hợp để nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Do đó, đầu tư nghiên cứu cần gắn với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường. Nguồn lực dành cho khoa học phải tạo điều kiện để hình thành những công nghệ có khả năng ứng dụng, giải quyết các bài toán thực tế của sản xuất, kinh doanh và đời sống. Đồng thời, cơ chế hợp tác giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cần được cải thiện để kết quả nghiên cứu có thể đi tiếp từ phòng thí nghiệm đến sản xuất.

Nhận định thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một khâu đặc biệt quan trọng, Thứ trưởng Hoàng Minh cho rằng, thu nhập từ tài sản trí tuệ thấp cho thấy khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu của Việt Nam còn hạn chế. Để cải thiện tình trạng này, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển các nguồn vốn dài hạn và tạo điều kiện để trường đại học, viện nghiên cứu hình thành doanh nghiệp khởi nguồn từ kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ, thường được gọi là doanh nghiệp spin-off.

Đối với các công nghệ chuyên sâu, con đường từ ý tưởng đến sản phẩm thương mại thường kéo dài, đòi hỏi nhiều vòng thử nghiệm, hoàn thiện kỹ thuật và kiểm chứng thị trường. Doanh nghiệp có thể mất nhiều năm để phát triển công nghệ, tạo mẫu thử và mở rộng sản xuất trước khi tạo ra doanh thu ổn định. Trong thời gian đó, chi phí nghiên cứu và phát triển vẫn tiếp tục phát sinh, còn khả năng tiếp cận nguồn vốn thương mại thường hạn chế do rủi ro cao.

Ông Sacha Wunsch-Vincent cũng nhấn mạnh sự cần thiết của các nguồn tài trợ phù hợp với từng giai đoạn phát triển, từ chứng minh tính khả thi, thử nghiệm công nghệ đến triển khai thương mại. Việc phát triển nguồn vốn dài hạn, trong đó có vốn đầu tư mạo hiểm, sẽ góp phần hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ vượt qua khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu và khả năng kinh doanh trên thị trường. Bên cạnh vốn, quyền sở hữu trí tuệ cần được xác lập rõ ràng.

Về thể chế, chuyên gia WIPO lưu ý bên cạnh những kết quả hoàn thiện chính sách, pháp luật, cần chú trọng hiệu quả thực thi các quy định đã ban hành. Điều này đòi hỏi chính sách phải được triển khai bằng những cơ chế cụ thể, có nguồn lực thực hiện và có khả năng đo lường kết quả.

Kết quả GII 2026 cho thấy Việt Nam tiếp tục cải thiện vị trí trong bảng xếp hạng đổi mới sáng tạo toàn cầu, nhưng khoảng cách giữa năng lực sản xuất, xuất khẩu với khả năng làm chủ công nghệ và thương mại hóa tri thức vẫn là bài toán cần giải quyết. Để đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng, cần gắn đầu tư cho nghiên cứu và phát triển với nhu cầu của doanh nghiệp, tăng cường liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học và khu vực sản xuất, đồng thời hoàn thiện cơ chế huy động vốn và khai thác tài sản trí tuệ./.

PV

Xem thêm